Vai trò thị trường tiền tệ đối với việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

TTTT sở hữu vai trò quan yếu trong việc truyền tải những tác động CSTT tới nền kinh tế, là hạ tầng hạ tầng cho lưu chuyển tiền tệ. Mối quan hệ mật thiết giữa phát triển TTTT và CSTT là ko thể phủ nhận bởi thông qua thị trường này mà CSTT mới tác động tới nền kinh tế thực. Một TTTT kém phát triển sở hữu thể cản trở những cú sốc thanh khoản từ NHTW và làm giảm hiệu quả của kênh truyền dẫn của lãi suất, từ đó làm giảm hiệu quả quản lý CSTT (Laurens, 2005).
Trong một nền kinh tế thị trường, nhất là nền kinh tế thị trường phát triển, lãi suất là biến số kinh tế rất nhạy cảm, chịu tác động bởi tổng hòa những nhân tố (thu nhập, mức giá, cung tiền, lãi suất quốc tế, tỷ giá…).Thêm vào đó, tác động chủ yếu của cơ chế truyền dẫn CSTT tới TTTT được thể hiện ở kênh lãi suất, kể từ sự lan truyền của hoạt động thị trường mở tới lãi suất thị trường hoặc thông qua kênh dự trữ hoặc thông qua quan hệ cung cầu tiền tệ. Trong điều kiện TTTT kém phát triển, việc điều tiết giá cả là rất khó khăn, nhất là lúc lãi suất nền kinh tế được tự do hóa, đặt ra yêu cầu NHTW phải xây dựng được một hành lang/biên độ giao động của lãi suất trên thị trường liên nhà băng, phát huy được hiệu quả của lãi suất chính sách trong định hướng thị trường.
Vì vậy, xu thế sử dụng lãi suất liên nhà băng làm mục tiêu hoạt động thay cho tiền dự trữ đang trở nên ngày càng phổ biến ở những nước sở hữu thị trường tài chính phát triển và đang phát triển, nguyên nhân do: (i) Việc tự do hóa lãi suất đã làm cho lãi suất được xác định bởi những yếu tố thị trường hơn; (ii) Vai trò của lãi suất trong cơ chế truyền dẫn tác động CSTT tới nền kinh tế ngày càng tăng lên; (iii) Thị trường và những nhà đầutư ngày càng nhạy cảm với lãi suất hơn; (iv) Khả năng kiểm soát và đo lường lãi suất thuận tiện hơn (những số liệu về lãi suất sở hữu thể thu thập tức thì trong lúc số liệu về cung tiền M2 chỉ sở hữu thể thu thập sau hàng tháng).
Trên thực tế, NHTW sở hữu thể lựa chọn những lãi suất ngắn hạn khác nhau làm lãi suất mục tiêu, dựa trên nguyên tắc: (i) lãi suất này phải là lãi suất chủ yếu của thị trường và sở hữu tác động tới những loại lãi suất khác; (ii) lãi suất này phải là lãi suất mà NHTW thuận tiện sở hữu thể kiểm soát và tác động theo mong muốn.
Trong từng thời kỳ, NHTW sở hữu trách nhiệm xác định mức lãi suất mục tiêu kỳ vọng cụ thể – là mức lãi suất mà NHTW mong muốn và quyết tâm duy trì cho lãi suất thị trường cùng loại biến động xung quanh mức lãi suất này. Mức lãi suất mục tiêu kỳ vọng sở hữu những đặc điểm sau: (i) Là trị giá cụ thể trong từng thời kỳ của loại lãi suất mục tiêu mà NHTW lựa chọn; (ii) phản ảnh được những ưu tiên trong quản lý CSTT của NTHW; (iii) sở hữu thể là một mức cụ thể hoặc là một khung lãi suất bao gồm lãi suất trần và sàn. Thông thường, lãi suất mục tiêu kỳ vọng trong từng thời kỳ được NHTW thông tin để định hướng cho hoạt động của thị trường và NHTW sẽ can thiệp thông qua những dụng cụ quản lý CSTT của mình lúc lãi suất thực tế biến động vượt mức lãi suất mục tiêu kỳ vọng của NHTW.
Việc quản lý CSTT của NHTW sở hữu thể tác động tới sự phát triển và những chức năng của TTTT. Việc gia tăng khối lượng và hoạt động giao dịch trong một số thị trường phòng ban của TTTT, nơi mà tại đó NHTW lựa chọn những dụng cụ hoạt động và phương thức can thiệp sở hữu thể giúp cải thiện độ sâu và sự phát triển của TTTT một cách tổng thể. Theo đó, việc NHTW lựa chọn tầng lớp TTTT để quản lý CSTT mà ko phải là một phòng ban nào khác hay việc sử dụng những dụng cụ thị trường trên TTTT thay vì sử dụng những dụng cụ phi thị trường (kiểm soát tín dụng) sẽ góp phần làm tăng khối lượng trao đổi và do đó, tác động tới độ sâu cũng như sự phát triển toàn diện của TTTT (Loretan & Wooldridge, 2008).

Rate this post

Bình luận