Thực trạng về hợp đồng lao động (tham khảo)

Điều 18 Luật lao động (2012) quy định trong mọi trường hợp thuê mướn lao động phải ký kết HĐLĐ và thực hiện những điều khoản đó. Kết quả TNXH về HĐLĐ (xem bảng 1 – phụ lục 8c) bước đầu cho thấy những DN đã tuân thủ quy định này.

Trách nhiệm đảm bảo quyền về hợp đồng lao động

Những DN might đã đạt được kết quả thực hiện trách nhiệm đảm bảo quyền về HĐLĐ ở mức trên trung bình 3.13/5,0 điểm. Điều này cho thấy ký kết và thực hiện HĐLĐ là một trong những trách nhiệm cơ bản nhất trong đảm bảo quyền đối với NLĐ.

Trong những nội dung thì “ký đúng loại HĐLĐ theo tính chất công việc- hdld2” sở hữu mức điểm cao nhất (3,36/5,0 điểm). Sở dĩ sở hữu mức giám định này do ký kết đúng HĐLĐ theo tính chất công việc là cơ sở vật chất xây dựng quan hệ phối hợp giữa NLĐ và NSDLĐ. Còn đối với NLĐ lúc được ký kết đúng loại HĐLĐ thì DN sẽ ko thể đuổi việc NLĐ một cách vô cớ cũng như NLĐ thừa hưởng những quyền về lương, thưởng, phúc lợi, trợ cấp, bảo hiểm… Theo VITAS (2017): “Những DN might quy mô to đảm bảo 100% NLĐ đều sở hữu HĐLĐ theo tính chất công việc”. Trong đó loại HĐLĐ mà những DN ký kết với NLĐ như ko xác định thời hạn, thời hạn từ 12 – 36 tháng và loại HĐLĐ mùa vụ, phổ biến nhất là HĐLĐ từ 12- 36 tháng (xem hình 3.3). Thực trạng về “những điều khoản đảm bảo quyền cho NLĐ- hdld1” trong những

DN might to đã được chú trọng. Vi phạm nội dung này tập trung ở những DNNVV. Kết quả này cũng được ILO & IFC phản ánh qua những năm sắp đây (xem hình 3.4).

Việc ko tuân thủ những điều khoản đảm bảo quyền cho NLĐ trong thực hiện HĐLĐ đặc trưng là những DN nhỏ qua những lần báo cáo của ILO & IFC sở hữu xu hướng tăng khá lo ngại từ: 15 DN (năm 2013), 23  DN (năm 2014),  71 DN (năm 2015),  97 DN (năm 2017). Những chi tiết bị thiếu trong HĐLĐ sở hữu xu hướng khác nhau tùy theo từng DNNVV, nhưng phổ biến nhất là về quá trình tăng lương, huấn luyện nghề  và tăng tay nghề, những thiết bị bảo vệ tư nhân được sử dụng, tiền lương làm thêm giờ, chi tiết về hình thức trả tiền tiền lương và bảng lương.

Lúc kết thúc HĐLĐ những DN might quy mô to đã tuân thủ PLLĐ về vấn đề này còn những DNNVV ko trả đúng phúc lợi nghỉ việc cho NLĐ là 97,37% (ILO & IFC, 2015). Nguyên nhân của việc ko tuân thủ này là do những DN might ko trả tiền cho NLĐ những khoản như: lương, ngày phép năm, trợ  cấp kết thúc  HĐLĐ trong vòng 7 ngày làm việc từ lúc kết thúc HĐLĐ theo PLLĐ.

Trách nhiệm đảm bảo lợi ích về hợp đồng lao động

“Những điều khoản đảm bảo lợi ích trong HĐLĐ- hdld4” cho NLĐ liên quan tới điều chỉnh tiền lương, tăng lương, phúc lợi… tại những DN to phần nào đã được khắc phục. Còn đối với những DNNVV sở hữu những điều khoản đảm bảo lợi ích là ko thể chứng cứ thực tế là mức điểm ở nội dung này ở mức yếu -2,40/5,0 điểm. Theo MOLISA, (2015): “sở hữu 71/152 DN might quy mô nhỏ và vừa ko tuân thủ được việc cụ thể hóa những điều khoản về lợi ích của NLĐ theo quy định”. Lý giải cho kết quả này là hiện những DNNVV do tình hình kinh doanh còn nhiều khó khăn, ngân sách để thực hiện những điều khoản đảm bảo quyền còn khá khó khăn, hạn hẹp. Vì vậy, những điều khoản đảm bảo lợi ích cho NLĐ như: trả lương khó khăn, trả phụ cấp trợ cấp cao hơn quy định, hay tạo ra những việc làm mới lúc NLĐ ngoài 35 tuổi sức khỏe khởi đầu suy giảm, năng suất lao động tác động, tương trợ nhà ở, xây dựng vườn trẻ…. là những vấn đề DN ko thể một sớm, một chiều đưa vào HĐLĐ.

Rate this post

Bình luận