Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường tiền tệ

Những tiêu chí định lượng thẩm định sự phát triển của thị trường tiền tệ
(i) Quy mô của thị trường (bao gồm số lượng thành viên tham gia thị trường và doanh số giao dịch của thị trường) TTTT của một quốc gia được thẩm định là phát triển lúc doanh số giao dịch của thị trường to, những dụng cụ/hàng hóa của thị trường được phát hành với khối lượng to và nhiều, kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường phát triển sôi động và sở hữu sự kết nối giữa thị trường trong nước với TTTT quốc tế.
(ii) Độ sâu của thị trường thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi/GDP và huy động/GDP
Những tiêu chí định tính thẩm định sự phát triển của thị trường tiền tệ.
(i) Sự phát triển của những thị trường phòng ban:
Một TTTT muốn phát triển cần sở hữu đầy đủ những thị trường phòng ban; mối quan hệ giữa những thị trường phòng ban phải chặt chẽ, phát triển cân đối về quy mô và trình độ. Một sự thay đổi hay biến động trên thị trường này sẽ làm tác động tới hoạt động của thị trường khác. Sân chơi trên TTTT chính là hệ thống những thị trường phòng ban cấu thành nên TTTT, bao gồm TTTT mở rộng (thị trường 1) và TTTT liên nhà băng (thị trường 2).
Mối quan hệ giữa những thị trường phòng ban trên TTTT được hình thành từ những luồng luân chuyển về vốn giữa những những thị trường; biến động trên thị trường sẽ tạo ra những luồng vốn chu chuyển, từ đó tác động tới quan hệ cung cầu, làm thay đổi những chỉ số phản ánh hoạt động của những thị trường liên quan khác, cụ thể:
– Đối với TTTT mở rộng (thị trường 1): Căn cứ tính chất sản phẩm nhà sản xuất, TTTT mở rộng sở hữu thể được chia thành 2 phòng ban là thị trường GTCG ngắn hạn và thị trường tín dụng.
Theo đó, lãi suất xác định trên TTTT nếu ở mức cao thể hiện sự khan hiếm vốn trong hệ thống nhà băng, người dân sẽ sở hữu xu hướng gửi tiền vào nhà băng nhiều hơn. Quá trình tạo tiền thông qua hệ thống NHTM làm tăng lượng tiền cung ứng và đẩy lãi suất xuống tới vị trí thăng bằng mới.
– Đối với TTTT liên nhà băng (thị trường 2): sự chuyển hóa vốn giữa thị trường nội tệ liên nhà băng và thị trường ngoại tệ liên nhà băng (thị trường ngoại hối) làm thay đổi cung, cầu ngoại tệ và nội tệ của quốc gia. Mối quan hệ giữa hai thị trường còn được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá, diễn biến lãi suất của thị trường nội tệ liên nhà băng sẽ tác động tới lãi suất của thị trường ngoại tệ liên nhà băng và trái lại. Lúc lãi suất thực của đồng nội tệ tăng, lợi tức dự trù đầu tư vào đồng nội tệ tăng, dẫn tới khả năng những nhà băng di chuyển vốn từ ngoại tệ sang nội tệ thông qua thị trường hối đoái giao ngay (spot). Trái lại, nếu trên thị trường đồng nội tệ sở hữu xu hướng khuyến mại so với ngoại tệ, những nhà đầu tư sở hữu xu hướng đầu tư vào ngoại tệ, sở hữu thể xảy ra tình trạng tiền gửi nội tệ tại những nhà băng giảm, nhu cầu vay nội tệ tăng, để thăng bằng những nhà băng thường phải tăng lãi suất nội tệ nhằm hạn chế việc đầu tư vào ngoại tệ.
Tương tự, một sự thay đổi về lãi suất nội tệ đều làm tác động tới hoạt động của thị trường nội tệ liên nhà băng và thị trường ngoại tệ liên nhà băng, từ đó, tác động tới tình hình cung cầu vốn trên TTTT. Sự biến động của tỷ giá cũng làm tác động tới cung cầu vốn nội tệ và vốn ngoại tệ giữa hai thị trường (tỷ giá tăng – giá ngoại tệ tăng kéo theo xu hướng nội tệ chuyển sang ngoại tệ và trái lại).
(ii) Sự phát triển và tính nhiều của những dụng cụ, hàng hóa trên thị trường
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, TTTT ngày càng phát triển và trở nên phức tạp hơn. Những dụng cụ tài chính, hàng hóa lưu thông trên thị trường liên tục phát triển, đổi mới, nhiều hơn và phức tạp hơn. Theo đó, lúc TTTT phát triển ở mức độ cao, định hướng hoạt động kinh doanh của những NHTM ko chỉ sử dụng lại ở những nghiệp vụ cho vay truyền thống đơn thuần mà sẽ gia tăng nhà sản xuất và hàng hóa cung ứng để tạo ra nhu cầu ngày càng nhiều của thị trường, đặc thù là những hình thức kinh doanh chênh lệch giá với sự phát triển của thị trường repo, thị trường chứng khoán phái sinh.
(iii) Tính nhiều và năng lực của những thành viên tham gia thị trường:
Mọi thành viên trong nền kinh tế đều sở hữu thể tham gia TTTT và đều sở hữu thể trở thành thành viên/chủ thể của thị trường. Thông thường, thành viên của TTTT gồm 2 loại chính: (1) Đại diện cho bên cung vốn là những tổ chức, tư nhân tạo nên thị trường như cung ứng hàng hóa hoặc tổ chức việc giao dịch tậu bán, vay mượn trên thị trường; (2) Đại diện cho bên cầu vốn là những nhà đầu tư, doanh nghiệp, tư nhân tham gia tậu bán hàng hóa trên thị trường. Theo đó, thị trường phát triển càng cao thì xuất hiện càng nhiều những thành viên tạo lập thị trường như những nhà môi giới (brokers) và kinh doanh tiền tệ (sellers), góp phần kết nối người tậu và người bán để những dụng cụ, hàng hóa trên TTTT lưu thông một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn; đồng thời những hình thức sở hữu, loại hình của những thành viên tham gia thị trường cũng phong phú và nhiều hơn.
Không những thế, năng lực của những thành viên tham gia thị trường cũng tác động tới sự phát triển của thị trường nói chung. Chẳng hạn những doanh nghiệp sở hữu tình hình tài chính tốt, kinh doanh hiệu quả sẽ tham gia nhiều hơn vào thị trường do sở hữu thể khắc phục nhu cầu vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp với giá tiền thấp hơn lãi suất cho vay nhà băng. Những NHTM, những tổ chức tín dụng khác tham gia giao dịch trên TTTT, đặc thù là thị trường liên nhà băng thường ko sở hữu tài sản đảm bảo, chủ yếu dựa trên uy tín kinh doanh; do đó, năng lực tài chính của từng thành viên chính là yếu tố quyết định việc những thành viên sở hữu tiện lợi tiếp cận tài chính lúc sở hữu nhu cầu, tạo lòng tin giữa những thành viên trên thị trường, hạn chế rủi ro và vỡ lẽ trên thị trường.
Tóm lại, một TTTT phát triển là một thị trường đảm bảo sự luân chuyển vốn luôn thông suốt, đảm bảo phân bổ vốn một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế. Theo đó, những thành viên tham gia thị trường phải sở hữu năng lực tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh hiệu quả.
(iv) Lãi suất trên thị trường phản ánh đúng cung cầu vốn của thị trường TTTT càng phát triển, mức độ khó khăn trên thị trường liên nhà băng càng to, do đó, lãi suất trên thị trường liên nhà băng càng phản ánh xác thực cung cầu vốn của TTTT. Mặt khác, sự phát triển ngày càng phong phú của những hình thức kinh doanh chênh lệch giá cũng góp phần làm lãi suất trên thị trường liên nhà băng ngày càng phản ánh xác thực cung cầu vốn trên thị trường.
(v) Sự phát triển của cơ sở vật chất hạ tầng (hệ thống thông tin) tương trợ hoạt động của thị trường TTTT càng phát triển thì nhu cầu trả tiền thông qua hệ thống điện tử sẽ ngày càng tăng. Theo đó, hệ thống kỹ thuật thông tin cũng phải phát triển ở mức độ tương ứng để xử lý thông tin và thực hiện những giao dịch nhanh, xác thực, kịp thời. Hệ thống này bao gồm những cấu phần sau:
– Hệ thống giao dịch điện tử liên nhà băng đảm bảo kết nối với hệ thống Ngân khố Nhà nước để thực hiện việc trả tiền tập trung tài khoản Ngân khố Nhà nước tại NHNN và kết nối với hoạt động hệ thống trả tiền bù trừ và quyết toán tiền giao dịch Trái phiếu Chính phủ để thực hiện quyết toán trái phiếu chính phủ tại NHNN.
– Hệ thống giao dịch tập trung (còn gọi là hệ thống thông tin tập trung) giữa những thị trường phòng ban của TTTT.
– Hệ thống thông tin thống kê ngành Nhà băng phục vụ công việc thống kê, dự đoán, phân tích tình hình thị trường.
– Hệ thống trả tiền bù trù quốc giaphục vụ cho những giao dịch bán lẻ.
– Hệ thống trả tiền của từng TCTD phục vụ cho những nghiệp vụ kinh doanh trên TTTT (hệ thống trả tiền ngoại tệ, hệ thống trả tiền chứng khoán, hệ thống trả tiền thẻ, hệ thống trả tiền nội bộ của từng NHTM và hệ thống trả tiền music phương).

Rate this post

Bình luận