Sự tác động trực tiếp của “Sự ác cảm tiêu dùng” đến “Hành vi tẩy chay”

Những cách tiếp cận khác biệt nhau về khái niệm khái niệm “sự ác cảm của người  tiêu tiêu dùng” đã dẫn tới những mối quan hệ khác nhau giữa những khái niệm và “hành vi tẩy chay”. Ngoại trừ nghiên cứu của Harmeling và cùng sự. (2015) vừa mới được công bố; chưa thấy những nghiên cứu kiểm định hoặc mở rộng thêm.

Lúc xem xét mối quan hệ giữa “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” và “hành vi tẩy chay” hàng hóa mang xuất xứ từ một quốc gia nào đó, những tác giả trước thường tiếp cận nghiên cứu theo hướng lặp lại mở rộng từ nghiên cứu gốc của Klein và cùng sự. (1998). Xét về bản tính, nghiên cứu của Harmeling và cùng sự. (2015) mang thể xem như là mô phỏng mở rộng từ mô phỏng của Klein và cùng sự. (1998) và mô phỏng của nhóm Klein là mô phỏng mở rộng từ mô phỏng “vị chủng tiêu tiêu dùng” của nhóm Shimp và Sharma (1987).

Kể từ nghiên cứu của Klein và cùng sự. (1998), tổng kết lý thuyết13 của Riefler và Diamantopoulos (2007) cho thấy từ năm 2000 tới 2006 mang 6 nghiên cứu dạng lặp lại (replicated analysis), tiêu biểu là những nghiên cứu của Klein (2002); Nijssen và Douglas (2004). Giai đoạn cuối 2006 tới 2015 mang thêm 4 nghiên cứu lặp lại của Nakos và Hajidimitriou (2007); Jensen (2008); Little và cùng sự. (2011); Eren (2013). Lập luận về khoảng trống nghiên cứu của những nhóm tác giả để lý giải vì sao cần tiến hành nghiên cứu lặp lại thường dựa trên bối cảnh nghiên cứu ở thị trường mới, sự khác biệt về văn hóa, chính trị, và đặc thù là sự khác biệt về biến cố gây ra sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng mang thể khác nhau giữa những thị trường mang thể dẫn tới những kết quả khác biệt. Ví dụ, Klein (2002) lặp lại nghiên cứu của Klein và cùng sự. (1998) dựa trên bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Nhật, nhóm tác giả lý giải biến cố từ trận chiến Trân Châu Cảng và sự thâm hụt cán cân thương nghiệp giữa Mỹ và Nhật mang thể là nguyên nhân dẫn tới sự ác cảm về chiến tranh và kinh tế của người dân Mỹ đối với hàng hóa xuất xứ Nhật. Phương pháp thực hiện những nghiên cứu lặp lại thường tiếp cận theo hướng định lượng.

Hướng tiếp cận thứ hai, dạng nghiên cứu mở rộng (expanded analysis) – thu hút nhiều nhà nghiên cứu hơn. Lý do chính mang thể giảng giải vì sao nhiều tác giả chọn hướng tiếp cận này vì đây là hướng tiếp cận khám phá những nhân tố mới. Căn cứ trên tài liệu thu thập hiện mang, dạng nghiên cứu thứ hai này chiếm tỷ lệ sắp 70%. Ở giai đoạn 2000 – 2006, theo tổng kết của Riefler và Diamantopoulos (2007), mang 8 nghiên cứu mở rộng từ nghiên cứu gốc. Giai đoạn 2006 tới 2010, tác giả luận án tổng kết mang thêm 14 dự án dạng mở rộng, tiêu biểu là những nghiên cứu của Hong và Kang (2006); Russell và Russell (2006); Edwards và cùng sự. (2007); Riefler và Diamantopoulos (2007); Leong và cùng sự. (2008); Ishii (2009) và Maher và Mady (2010). Giai đoạn 2011 tới 2015 mang khoảng hơn hai mươi nghiên cứu mở rộng nghiên cứu gốc vd., Russell và cùng sự. (2011); Ma và cùng sự. (2012); Nes và cùng sự. (2012); Lee và Lee (2013); Wang và cùng sự. (2013); Cheah và Phau (2015); Fernández-Ferrín và cùng sự. (2015); Harmeling và cùng sự. (2015).

Tổng kết những nghiên cứu trước, luận án này rút ra những nhận xét sau:

Hầu hết những tác giả xem xét “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” dưới một khái niệm tồn tại dưới nhiều thành phần độc lập khác nhau bao gồm “ác cảm chiến tranh”, “ác cảm quân sự”, “ác cảm kinh tế”, “ác cảm sắc tộc”, “ác cảm nội địa”, “ác cảm tôn giáo”. Biến cố tạo ra ác cảm là chiến tranh, xung đột quân sự, sắc tộc, vùng miền (vd., Đông Đức và Tây Đức), xung đột tôn giáo. Kết quả kiểm định cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” và “hành vi tẩy chay” sản phẩm mang xuất xứ từ quốc gia bị ác cảm. Tuy nhiên, vẫn mang nhiều nghiên cứu ko cho bằng cớ thống kê để chấp thuận sự tác động này vd., (Nijssen và Douglas, 2004; Nakos và Hajidimitriou, 2007; Leong và cùng sự., 2008; Chan và cùng sự., 2010; Maher và cùng sự., 2010; Hoffmann cùng sự., 2011; Ma cùng sự., 2012; Mrad cùng sự., 2014). Sự thiếu nhất quán về kết quả cho thấy cần phải  kiểm định lại mối quan hệ dưới góc nhìn khác về phương pháp hoặc nội dung những khái  niệm đo lường.

Rate this post

Bình luận