Chi đầu tư phát triển từ NSĐP cho GDCL

Thực hiện Quyết nghị 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương về việc đổi mới toàn diện giáo dục và huấn luyện, trong đó yêu cầu NSNN chi cho GD&ĐT tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện phân bổ chi thường xuyên NSĐP đảm bảo dành 20% chi NSĐP cho giáo dục huấn luyện. Tuy nhiên, đối với chi ĐTPT, do khả năng nguồn lực còn hạn chế trong lúc khối lượng những nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh liên quan tới những ngành nghề còn nhiều, giai đoạn 2011-2017, vốn đầu tư cấp tỉnh của tỉnh Thanh Hóa ưu tiên dành nguồn lực đầu tư nâng cấp hạ tầng vật chất những Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận và một số hạ tầng huấn luyện, vốn ĐTPT dành cho đầu tư hạ tầng vật chất những hạ tầng GDCL rất thấp. Vốn ĐTPT cấp quận, xã (chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất điều tiết ngân sách quận, xã) sử dụng để đầu tư xây dựng những trường măng non, tiểu học và THCS thuộc nhiệm vụ chi của cấp quận, xã.

Chi ĐTPT thuộc NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2017 tuy với tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng chi ĐTPT cho GDCL trong tổng chi ĐTPT cân đối NSĐP còn thấp (chiếm từ 6,2-8,7% tổng chi ĐTPT cân đối NSĐP). Trong đó, chủ yếu là chi ĐTPT từ nguồn thu tiền sử dụng đất ở cấp quận, xã. Vốn đầu tư trong cân đối ngân sách tỉnh chủ yếu dành cho những dự án đầu tư hạ tầng phát triển kinh tế – xã hội thuộc những ngành nghề liên lạc, thủy lợi, nông nghiệp… Đối với ngành nghề giáo dục và huấn luyện, chủ yếu đầu tư một số dự án xây dựng hạ tầng vật chất những hạ tầng huấn luyện thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh.

Do đặc thù tỉnh Thanh Hóa là địa bàn rộng, dân số cao nên nhu cầu kinh phí thực hiện những hoạt động thường xuyên của ngành giáo dục (chi duy trì hoạt động những hạ tầng GDCL, chi thực hiện những chế độ, chính sách của ngành giáo dục…) nên chi ĐTPT chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (từ 7,7-11%) trong tổng chi NSĐP cho GDCL. Trong đó, vốn ĐTPT trong cân đối lại chủ yếu tập trung ở ngân sách quận, xã với tỷ lệ khoảng 90% tổng chi ĐTPT cho GDCL.

Những dự án đầu tư thuộc ngành nghề giáo dục thường là dự án đầu tư với quy mô nhỏ, do đó, việc sắp xếp vốn đầu tư thực hiện thường được thực hiện trong 2-3 năm kể từ lúc dự án được phê duyệt tới lúc quyết toán hoàn thành.

Kế hoạch vốn ĐTPT thuộc NSĐP giai đoạn 2011-2015 được lập hằng năm, trên hạ tầng đề xuất của những địa phương, đơn vị với nhu cầu đầu tư nhưng chưa thể hiện rõ vai trò của ngành giáo dục. Sở KH&ĐT là cơ quan chủ trì thẩm định chủ trương đầu tư; xây dựng kế hoạch và phân bổ kinh phí thực hiện những dự án đầu tư trong những ngành nghề, bao gồm cả ngành nghề giáo dục. Sở GD&ĐT chỉ tham gia ý kiến về chủ trương đầu tư theo đề nghị của Sở KH&ĐT. Đối với những dự án ĐTPT thuộc ngành nghề giáo dục ở cấp quận, UBND cấp quận chủ động phê duyệt những dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý.

Bước sang giai đoạn 2016-2020, việc quản lý, phân bổ và sử dung vốn ĐTPT thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật NSNN. Những dự án đầu tư được đề xuất và tổng hợp trong kế hoạch đầu tư công trung hạn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2020. Trong năm 2016-2017, những trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận tiếp tục được ưu tiên sắp xếp vốn đầu tư, những trường phổ thông, măng non công lập số đông được sắp xếp vốn nâng cấp, mở rộng hạ tầng vật chất từ nguồn thu tiền sử dụng đất cấp quận, xã; tiết kiệm kinh phí SNGD trong dự toán ngân sách các ngành và từ những chương trình mục tiêu do Trung ương ban hành.

Mặc dù điều kiện ngân sách tỉnh còn nhiều khó khăn, nhu cầu chi đầu tư hạ tầng hạ tầng to với nhiều ngành nghề cần ưu tiên (những dự án phục vụ nông nghiệp, những dự án liên lạc….) nhưng với mục tiêu ưu tiên đầu tư cho GDCL, tỉnh Thanh Hóa đã kết hợp đầu tư hạ tầng vật chất cho ngành giáo dục từ nhiều nguồn khác nhau (vốn ĐTPT, tiết kiệm kinh phí SNGD, nguồn trung ương bổ sung thực hiện những chương trình mục tiêu…), hạ tầng vật chất ngành giáo dục đã từng bước được cải thiện, từng bước đáp ứng nhu cầu về phòng học cho các ngành học. Tỷ lệ phòng học/lớp học tăng dần ở khối măng non và tiểu học, đảm bảo nhu cầu sử dụng phòng học, giảm tình trạng học 2 ca/ngày ở cấp tiểu học. Tỷ lệ phòng học kiên cố cũng tăng lên qua những năm, đặc trưng là khối những trường măng non do thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ và đầu tư của những quận để đạt chuẩn nông thôn mới theo lộ trình, kế hoạch đã đăng ký.

Rate this post

Bình luận