Khái niệm chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế

Mặc dù đã xuất hiện rất nhiều nghiên cứu về chu kỳ kinh tế, tới bây giờ vẫn chưa tạo được sự đồng thuận về mặt khoa học liên quan tới khái niệm về chu kỳ kinh tế, đặc thù nguyên nhân của chu kỳ kinh tế. Theo Burns và Mitchell (1946), chu kỳ kinh tế là một chu kỳ kinh doanh, bao gồm bốn pha tuần tự: suy thoái, khủng hoảng
– tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, theo một số quan niệm kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa nền kinh tế trở nên tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, những nhà máy đóng shop loạt, … hiếm lúc xảy ra. Bởi vì, lúc suy thoái kéo dài tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế, Chính phủ những nước thường hoạch định những chính sánh can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra. Vì thế, một số quan niệm mới mà tiêu biểu là Samuelson và Nordhalls (2007) cho rằng, chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba pha tuần tự là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (Hình 2.2). Trong đó, pha suy thoái là sự suy giảm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực trong thời kì hai hoặc hơn hai quý liên tục (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý).
Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra khái niệm suy thoái kinh tế là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng tới hơn một năm. Suy thoái kinh tế mang thể liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận doanh nghiệp và mang thể gắn liền với lạm phát hoặc giảm phát. Sự suy thoái trầm trọng và trong tương lai được gọi là khủng hoảng kinh tế (NBER, 2010).
Pha phục hồi là lúc GDP khởi đầu tăng trở lại và tăng cho tới lúc đạt bằng mức GDP trước suy thoái kinh tế. Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tục kể từ điểm đáy. Điểm ngoặt giữa hai pha suy thoái và pha phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhalls, 2007).
Pha hưng thịnh là lúc GDP tăng to hơn mức GDP đạt lúc trước lúc suy thoái xảy ra thì nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh và pha hưng thịnh kết thúc bằng sự khởi đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhalls, 2007).


Dựa trên những quan niệm trên và mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu tới CTV của doanh nghiệp Việt Nam, tác giả thống nhất với quan niệm của Samuelson và Nordhalls (2007) và NBER cho rằng nền kinh tế mang ba pha tuần tự là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, do hạn chế về dữ liệu thu thập và tính chất của chu kỳ kinh tế toàn cầu – vừa kết thúc pha suy thoái và đang dần phục hồi nhưng chưa đạt tới pha hưng thịnh. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn lại ở việc nghiên cứu hai pha suy thoái và pha phục hồi.
Chu kỳ kinh tế cũng như hiện tượng suy thoái kinh tế tác động nghiêm trọng tới doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu hệ thống những lý thuyết của chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế là nhiệm vụ quan yếu được tất cả các nước quan tâm. Tuy nhiên, những trường phái khác nhau đưa ra những cách giảng giải khác nhau về suy thoái kinh tế. Sau đây luận án trình bày quan niệm của một số trường phái cơ bản và từ đó, tác giả vận dụng những lý thuyết này để giảng giải những hành vi của những chủ thể trong nền kinh tế gắn với suy thoái kinh tế.

Rate this post

Bình luận