Thuận lợi và khó khăn của HSTC và điểm chung ở các thị trường chứng khoán

Như trên tổng thể, hiện nay nước ta đang sở hữu nhiều thuận lợi để hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán.
-Thứ nhất, với quyết tâm chặn đà sút giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhịp độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia những năm sắp đây do những tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính khu vực, Việt Nam đã xây dựng hoàn thành bản Chiến lược phát triển kinh tế xã hội tới năm 2010 nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới, xoá đói giảm nghèo, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu để hội nhập và phát triển. Đây là tiền đề quan yếu để tiến hành phát triển những ngành, những ngành của nền kinh tế trong việc phát triển thị trường chứng khoán.
-Thứ hai, định hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo định chế thị trường ở nước ta ngày càng trở nên rõ nét và nhất quán; những yếu tố pháp lý của việc tổ chức, quản lý và vận hành nền kinh tế theo những nguyên lý của thị trường đang được củng cố và hoàn thiện dần. Đặc thù, với sự kiện Hiệp nghị thương nghiệp đã ký kết, cách nhìn nhận của những nhà đầu tư nước ngoài về môi trường đầu tư tại Việt Nam, về cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc tăng trưởng phát triển kinh tế và đẩy mạnh cải cách sẽ được thay đổi một cách cơ bản, đây là tiền đề rất quan yếu cho sự hình thành, hoàn thiện và phát triển của thị trường chứng khoán ở nước ta.
-Thứ ba, môi trường kinh doanh và đầu tư ngày càng trở nên thông thoáng, lúc đã sở hữu khoản 150/402 giấy phép con đã được huỷ bỏ cùng với sự ra đời sở hữu hiệu lực của Luật doanh nghiệp đã sở hữu trên 440 Đơn vị cổ phần được thành lập, nhiều hơn tổng số những doanh nghiệp cổ phần được thành lập trong 9 năm trước cùng lại. đó là nguồn tiềm năng sở hữu ý nghĩa quyết định tới sự thành công hay thất bại của thi trường chứng khoán.
-Thứ tư, ngoài nỗ lực và quyết tâm của Chính phủ trong việc tích cực tác động trong quá trình hình thành thị trường chứng khoán, nước ta còn nhận được sự tương trợ tích cực, sự trợ giúp sở hữu hiệu quả của những chính phủ, những tổ chức và tư nhân ở nước ngoài cả về mặt vật chất lẫn kinh nghiệm.
-Thứ năm, qua một năm tập dượt, cọ sát với thương trường, trình độ của hàng ngũ cán bộ môi giới của những doanh nghiệp chứng khoán, cán bộ quản lý và quản lý được nâng lên một bước. Đó là nhân tố tích cực đối với sự hình thành và phát triển của thị trường.
-Thứ sáu, như một phần của văn hoá, cờ bạc – thú tiêu khiển quyến rũ và sở hữu sức cám dỗ – đã và đang lan toả khắp quốc gia Việt Nam. Chính sự được cám dỗ của trò might rủi trên thị trường chứng khoán sẽ là nhân tố nuôi dưỡng và phát triển số lượng những nhà đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán như đã từng nuôi dưỡng thị trường dân số và đội quân bán vé số khắp trong những Tỉnh, Thành trong cả nước.
Những thuận lợi được kể ở trên là cơ bản nhưng để hình thành một thị trường chứng khoán hoạt động ổn định và sở hữu hiệu quả, trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn.
-Thứ nhất, khó khăn bao trùm nhất cho việc hình thành, hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán là sự cồng kềnh và kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong guồng máy kinh tế. Số liệu thống kê trong năm sắp đây cho thấy, trong 5.371 doanh nghiệp nhà nước hiện sở hữu, chỉ sở hữu khoảng 40% doanh nghiệp hoạt động sở hữu hiệu quả, 29% doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, 31% hoạt động chưa ổn định. Đáng buồn là báo cáo khảo sát 727 thiết bị và 3 dây chuyền nhập khẩu của 42 hạ tầng sản xuất mới đây do Viện Khoa học Bảo hộ Lao Động thực hiên cho biết sở hữu tới 76% thiết bị, máy móc nhập khẩu thuộc thế hệ những năm 50 – 60, trên 70% đã hết khấu hao, sắp 50% đã được tân trang lại. Một phúc trình khác do Bộ Khoa học, Kỹ thuật và Môi trường thực hiện tại nhiều doanh nghiệp thuộc một số ngành sản xuất quan yếu cũng cho thấy, những thiết bị đang sử dụng lạc hậu so với toàn cầu từ 10 tới 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30 – 50%.
-Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta chưa thật sự phát huy hết vai trò so với tiềm lực của nó trong nền kinh tế với một thị trường tiêu thụ sắp 80 triệu dân. Mặc dù đã được nhà nước chính thức thừa nhận và tạo điều kiện cho phát triển nhưng đến nay, khu vực này chủ yếu vẫn là những hộ gia đình nông dân và những cá nhân kinh doanh công thương nghiệp nghiệp, nhà cung cấp. Những dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp cổ phần sở hữu tiềm lực, sở hữu sức khó khăn trên thị trường vẫn còn ít.
-Thứ ba, mặc dù đã sở hữu sự chuyển biến rất to trong việc thực hiên chủ trương cổ phần hoá nhưng đến nay, do nhiều nguyên nhân, tiến độ cổ phần hoá của những nước diễn ra rất chậm. Điều ko might là hiện tồn tại quan niệm cho rằng, cổ phần hoá là một hình thức khắc phục vấn đề tài chính của những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ. Do đó, tuy nguồn cung chứng khoán tiềm năng ko phải là nhỏ nhưng nguồn cung thực tế thì quá nhỏ bé, ko quyến rũ và không phù hợp nhu cầu của thị trường.      Quan hệ cung cầu chứng khoán vốn sở hữu xu thế xấu đi lúc nhiều doanh nghiệp đủ những điều kiện niêm yết lại ko thực hiện niêm yết chứng khoán.
-Thứ tư, mặc dù đã hình thành và phát triển ở Việt Nam nhưng do ko được chính thức thừa nhận, thị trường đất đai – “chú ngựa non bất kham” – đã và đang gây những tác động tiêu cực tới sự phát triển của nền kinh tế.    Theo những chuyên gia kinh tế, với mặt bằng trị giá đất mặt tiền hiện nay ở xã Hàng Đào (5.300 USD/m2), xã Kim Mã (3.000USD/m2), giá đất ở khu vực này cao hơn rất nhiều lần so với giá đất tại khu vực Manhattan (New York, Hoa Kỳ)! Giá đất gia tăng đột biến và gia tăng với tốc độ chóng mặt đã hướng đại phòng ban những dòng chảy của tiền vốn nhàn rỗi và dịch chuyển những vốn đầu tư trên những thị trường tài chính vào thị trường đất đai với mục đích đầu tư trục lợi. Hậu quả là, nền kinh tế sẽ rất khó sở hữu cơ might phát triển vì sẽ ko sở hữu nhà đầu tư nào chịu bỏ vốn ra đầu tư sản xuất vì chính giá thành thuế đất quá cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm đội lên và do đó sản phẩm sẽ được khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, thật ko thuận lợi chút nào để hoàn thành và phát triển một thị trường chứng khoán.
-Thứ năm, hiện đang tồn tại một nghịch lý trong xã hội Việt Nam trong vấn đề thực thi và chấp hành pháp luật. Trong lúc vẫn còn phải mất một khoảng thời kì khá dài Việt Nam mới sở hữu đủ những bộ Luật cần thiết để điều chỉnh những hoạt động kinh tế của những chủ thể trong nền kinh tế thị trường thì việc thực thi một số ngành Luật đã ban hành. Trong ngành chứng khoán, khó khăn lại càng thể hiện rõ hơn vì khung pháp lý hiện nay, vẫn còn nhiều việc phải làm để điều tiết đúng hướng mọi giao dịch thực hiện trên thị trường, bảo đảm thị trường hoạt động công bằng và ổn định.
-Thứ sáu, mặc dù đã nhiều lần thực hiện điều chỉnh chế độ kế toán những doanh nghiệp nhưng đến nay, Việt Nam chưa sở hữu một chế độ kế toán hoàn chỉnh và tiến sắp tới những chuẩn mực kế toán quốc tế. Hậu quả là vẫn tồn tại những cản ngại chưa thể vượt được lúc muốn tiến hành huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng như thu hút những nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán trong nước.
-Thứ bảy, tuy HSTC đã hoạt động được một năm nhưng một điều vững chắc sở hữu khẳng định rằng, mặt bằng chung về sự thạo tài chính (monetary refined) của công chúng vẫn còn ở mức rất thấp. Xu hướng “kinh doanh chứ ko sở hữu chứng khoán”, xu hướng giao dịch theo số đông, ko sở hữu sự tính toán, cân nhắc đã làm cho thị trường vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp, khó dự đoán và khó quản lý bởi tác động của “hiệu ứng đám đông” (herding impact). Một mặt, lúc trạng thái hưng phấn ko còn là trạng thái đơn lẻ của từng tư nhân mà trở thành trạng thái của đại đầy đủ, nhiều nhà đầu tư (kể cả những nhà đầu tư mới) sẽ đổ xô đi tìm cổ phiếu bằng mọi giá vì luôn nghĩ rằng nó sở hữu trị giá và sẽ sở hữu người tìm lại với giá cao hơn nữa. Trong trường hợp này, theo “thuyết vẫn sở hữu đủ những nhà đầu tư cổ phiếu khôn ngoan hơn”(larger idiot principle), cho dù chứng khoán hay toàn bộ thị trường đã được định giá hợp lý (vừa đủ), việc đầu tư vẫn được nhiều người xem là hợp lý bởi vì sẽ sở hữu đủ những nhà đầu tư thiếu suy xét sẵn sàng đẩy giá cao thêm. Ở một thái cực khác, lúc trạng thái ức chế và hoang mang đã trở thành phổ biến, xu hướng bán tống bán tháo chứng khoán để thu hồi vốn và rút nhanh ra khỏi thị trường làm giá cổ phiếu rơi tự do và thị trường sẽ hoàn toàn sụp đổ. Rõ ràng, nếu ko hạn chế tạo động của hiệu ứng đám đông, tính lưu chuyển của thị trường sẽ rất thấp vì ko sở hữu một thị trường nào sở hữu thể đạt tính lưu chuyển cao nếu giới đầu tư đều xử sự giống nhau (tất cả cùng tìm hoặc cùng bán).
-Thứ tám, sau hơn một năm vận hành HSTC, điều ko might là phần to những nhà đầu tư đều bị thua lỗ to từ những rủi ro về chính sách, thị trường thử nghiệm đang đứng trước những nguy cơ khủng khoảng cung cầu, khủng hoảng lòng tin về tính ổn định nhất quán trong những chính sách, về tính sáng tỏ trong những quyết định, về kinh nghiệm quản lý của cơ quan quản lý.

Rate this post

Bình luận