Nguyên nhân của những hạn chế về trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam

Nguyên nhân khách quan

Hội nhập kinh tế quốc tế khá nhanh và mạnh làm cho sự phát triển của nhiều DN might còn chưa vững bền, chưa tích tụ đủ sức mạnh để đương đầu với khó khăn TMQT. Những FTA thế hệ mới với nhiều quy định về thực hiện TNXH đối với NLĐ mà những DN might ko thể thực hiện trong một sớm một chiều được. Tuy nhiên Việt Nam còn chưa ký kết những công ước số 87 và 105 về tự do hiệp hội và lao động cưỡng bức.

Quản lý nhà nước về TNXH đối với NLĐ của những DN might gặp nhiều “ổ gà” trên xa lộ thực hiện, đơn cử: trật tự xây dựng và ban hành chính sách pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu vắng những quy định cụ thể hay chính sách rõ ràng. Một số điều khoản trong BLLĐ (khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 22 BLLĐ, Điều 61, Điều 91, Điều 106), Luật ATVSLĐ trong quản lý hoạt động kiểm định, Nghị định về mức phạt vi phạm ATLĐ, Nghị định 85/2015/NĐ-CP vẫn còn một số bất cập…; Sở hữu nhiều Bộ và cơ quan ngang bộ quản lý TNXH đối với NLĐ tạo nên sự phức tạp, chồng chéo; Thông tin, tư vấn kịp thời Bộ luật, Luật và văn bản hướng dẫn chưa kịp thời, chưa với cẩm nang chung về những văn bản luật này; Chưa ban hành Bộ tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghề might và bộ tiêu chuẩn nghề might quốc gia; Kết nối NLĐ và NSDLĐ còn tự phát, công việc dự đoán thị trường lao động còn thiếu linh hoạt; Số lượng thanh tra viên còn khá ít, hoạt động rà soát còn rất lỏng lẻo và chế tài xử phạt còn bộc lộ nhiều yếu kém.

Hiện với quá nhiều Bộ CoC về lao động và thực hiện những CoC này đòi hỏi về mặt cơ sở vật chất vật chất kỹ thuật, nhân lực thậm chí việc xin cấp chứng chỉ TNXH đối với NLĐ còn tương đối phức tạp nên nhiều DN might ngại ngùng trong việc xin cấp những chứng chỉ này. Đây là vấn đề trở ngại của những DN might quy mô nhỏ và vừa  cũng như một số DN might vừa mới gia nhập thị trường. Với mỗi đối tượng khách hàng lại yêu cầu những DN might lựa chọn bộ CoC về lao động khác nhau, mỗi lần xin cấp bộ CoC DN lại bị rà soát và điều này làm cho DN mất rất nhiều thời kì; Đối với DNNVV hiểu biết về những CoC còn khá hạn chế, chưa với mô phỏng kiểu mẫu về thực hiện tốt những CoC để những DN, đặc trưng là những DNNVV học hỏi.

Những khách hàng  quốc tế của những DN might Việt Nam đã, đang thắt chặt hơn  những quy định về nhập khẩu sản phẩm ko chỉ về chất lượng mà còn về khả năng giao hàng, đáp ứng đơn hàng cũng như việc triển khai những hoạt động sản xuất   mang tính vững bền, thực hiện TNXH đảm bảo quyền và lợi ích;  Những DN might hiện nay vẫn phụ thuộc quá nhiều vào những nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào nước ngoài và quan hệ hợp tác, liên kết với nhà cung ứng trong và ngoài nước còn lỏng lẻo. Tuy nhiên, cùng đồng  chưa gây sức ép mạnh để những DN might, đặc trưng  là những DN might với quy mô vừa và nhỏ thực hiện TNXH đối với NLĐ.

Nguyên nhân chủ quan

Lãnh đạo DN trong thực hiện TNXH đối với NLĐ của những DN might còn gặp phải một số dào cản: nhiều DN might lãnh đạo DN tầm nhìn hạn chế, vẫn với ý kiến thực hiện TNXH chỉ là nghĩa vụ, hiểu biết quá trình thực hiện TNXH đối với NLĐ còn khá hạn chế, chưa nắm rõ trật tự, cách thức tổ chức, chưa với sự kết  hợp giữa thực hiện TNXH đối với NLĐ với quản trị nhân lực cũng như phong   cách lãnh đạo còn khá cứng nhắc trong thực hiện TNXH đối với NLĐ.

Nhiều DN might chưa quan tâm đúng mức tới hoạch định chiến lược bao hàm thực hiện TNXH đối với NLĐ hay hoạch định chiến lược chưa hướng tới bối cảnh với sự thay đổi của môi trường, đặc thù của những DN might là NLĐ nữ chiếm phần đông.

Tại những DN might đặc trưng là DNNVV khả năng huy động vốn đầu tư của DNNVV nhường như rất yếu, từ việc vay vốn từ những quỹ đầu tư, những chính sách tín dụng đều gặp nhiều trở ngại, khó khăn lúc thực hiện. Việc vận dụng những hình thức trả lương chưa thực sự linh hoạt thích hợp và nhiều DN chưa thực hiện BCTC, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; DN chưa lựa chọn mô phỏng thực hiện TNXH đối với NLĐ thích hợp với quy mô của những DN might. Đặc thù là những DNNVV.

Rate this post

Bình luận