Ý nghĩa kinh tế và đặc điểm của sản xuất cây công nghiệp

Cây công nghiệp với vị trí quan yếu trong việc cung ứng vật liệu với trị giá cho công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp như: đay, bông, gai, tơ tằm cho công nghiệp dệt; mía, lạc, vừng, đậu tương cho công nghiệp chế biến thực phẩm; cây thuốc cho công nghiệp dược liệu… nhằm phục vụ tiêu tiêu dùng của nhân dân trước hết là đáp ứng nhu cầu về ăn, mặc và mặt khác là đáp ứng yêu cầu to to về xuất khẩu để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá quốc gia.

Việc phát triển sản xuất cây công nghiệp cho phép sử dụng hợp lý và với hiệu quả tư liệu sản xuất, đất đai, khí hậu, lao động… góp phần tăng thu nhập và cải thiện cho người lao động.

Phát triển sản xuất cây công nghiệp còn góp phần thực hiện phân công lao động xã hội trong nông nghiệp và dịch chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngày càng hợp lý hơn.

Việc phát triển sản xuất cây công nghiệp cần phải chú ý tới những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của nó, đó là:

–   Cây công nghiệp đòi hỏi qui trình kỹ thuật cao từ khaai sản xuất bảo quản và chế biến để phục vụ yêu cầu của công nghiệp về mặt chất lượng.

–   Cây công nghiệp đòi hỏi về điều kiện tự nhiên khó tính hơn, vì vậy phải với sự sắp đặt sản xuất thích hợp với điều kiện tự nhiên.

–    Cây công nghiệp đòi hỏi trình độ thâm canh cao, đầu tư lao động sống và lao động vật hoá hợp lý và với chất lượng.

–   Cây công nghiệp nhất là cây công nghiệp dài ngày đòi hỏi nhiều vốn đầu tư trong thời kỳ xây dựng cơ bản và do vậy cây công nghiệp dài ngày thường với chu kỳ kinh doanh dài, do đó thời kì thu hồi vốn cũng dài. Thiết yếu qui trình kỹ thuật thích hợp cho cả chu kỳ sản xuất.

Điều kiện tự nhiên nước ta rất thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp. Trước cách mệnh tháng 8 cây công nghiệp kém phát triển: diện tích nhỏ bé, phân tán, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, năng suất và quản lý thấp.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp để thực hiện nhu cầu ăn mạc và kháng thắng lợi lợi, một số cây công nghiệp được phát triển như: lạc, vừng, ía, bông, gai…

Từ lúc hoà bình lập lại ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã tập trung sự chú ý vào việc khôi phục và phát triển nông nghiệp trong đó với cây công nghiệp, Nhà nước đã giành khoản đầu tư tương đối to để xây dựng những nông trường quốc doanh cây công nghiệp như: chè, cà phê, cao su… bảo hành những chính sách kinh tế như: thu tìm, giá cả, chính sách lương thực… đối với sản xuất cây công nghiệp. Nhờ vậy tới năm 1974 diện tích cây công nghiệp đã tăng 2,05 lần, trị giá sản lượng tăng 3,6 lần so với năm 1939. Tuy nhiên, lúc này sản xuất cây công nghiệp của ta vẫn ở tình trạng nhỏ bé, phân tán, sản phẩm hàng hoá ít.

Từ sau lúc quốc gia thống nhất, sản xuất cây công nghiệp với bước chuyển biến to. Diện tích tăng nhanh từ 474,3 nghìn ha năm 1976 lên 627,7 nghìn ha năm 1980 và 1.212,9 nghìn ha năm 1988. Trong vòng 12 năm diện tích cây công nghiệp đã tăng hơn 2,6 lần. Trong thời kì đó diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng sắp 2,1 lần và diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng sắp 3,3 lần. Nhìn chung những loại cây công nghiệp ngắn ngày như: bông, đay, cói, dâu tằm, đậu tương vùng đều được chú ý phát triển… cả về diện tích và sản lượng trong những năm sắp đây do thực hiện chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, năm 1986 cây công nghiệp dài ngày phát triển mạnh, đặc trưng là sau những năm thực hiện đổi mới nền kinh tế do Đảng ta khởi xướng từ Đại hội lần thứ VI (1986), những cây công nghiệp khác như: cà phê, cao su, chè, hồ tiêu… đều phát triển cả diện tích lẫn sản lượng. Sản lượng cà phê năm 1988 mới với 31,3 nghìn tấn, tới năm 1996 lên tới 252 nghìn tấn và năm 1997 ước đạt 315 nghìn tấn, gấp 10 lần năm 1988 và gấp 6,3 lần năm 1987. Cùng với cà phê, cao su và chè đã trở thành những cây công nghiệp xuất khẩu quan yếu cho nền kinh tế.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng về diện tích và sản lượng, sản lượng hàng hoá xuất khẩu. Sản xuất cây công nghiệp đã hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên môn hoá đó là: vùng cà phê Tây Nguyên, cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, chè ở Phú Thọ, Hà Tuyên, Lâm Đồng và cây công nghiệp ngắn ngày cũng hình thành những vùng sản xuất tập trung qui mô to ở nhiều những địa phương trong cả nước. Nhìn chung những vùng sản xuất hàng hoá tập trung với tỷ suất hàng hoá cao, chất lượng ngày càng tiếp cận với thị trường trong nước và ngoài nước, và với một số sản phẩm đủ sức khó khăn trên thị trường toàn cầu như cà phê, cao su, chè, hạt điều.

Rate this post

Bình luận