Mức độ quản trị tham nhũng của Chính phủ

Khu vực công nói chung và những chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư tương trợ phát triển chính thức (ODA) nói riêng được cho là diễn ra mức độ tham nhũng cao. Mức độ tham nhũng cao ở khu vực công là vấn đề nghiêm trọng ở tất cả quốc gia đang phát triển (Beekman & ctg, 2013; Jain, 2001; Stiglitz, 2002). Tham nhũng ở khu vực công với thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau như: thói tham nhũng quan liêu nhà nước, nhận hối lộ, lạm dụng chức quyền, quyền hạn nhà nước để trục lợi tư nhân (Scott, 1972). Tác động của tham nhũng lên hiệu quả những chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư ODA là một trong những đề tài được rất nhiều nhà nghiên cứu chú trọng quan tâm. Những nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu liên quan  tới đề tài này gồm với Mauro (1995), Dreher & Herzfeld (2005), hầu hết những nghiên cứu đã chứng minh tham nhũng với tác động tiêu cực đáng kể tới quá trình thu hút, quản lý và sử dụng vốn đầu tư ODA qua đó làm giảm hiệu quả vốn đầu tư này. Một quốc gia với mức độ tham nhũng cao sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ODA đồng thời tác động tiêu cực tới công việc thu hút vốn đầu tư này. Bởi vì, lúc mức độ tham nhũng cao sẽ làm thất thoát vốn, một phần vốn phải sử dụng vào giá thành ko cần thiết sử dụng để hối lộ hối lộ dẫn tới làm tăng tổng giá thành đầu tư, hậu quả là giảm lợi nhuận, lợi ích của những chương trình dự án ODA, qua đó tham nhũng tác động tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ODA. Ngoài ra, quốc gia với mức độ tham nhũng cao sẽ gây ra méo mó môi trường tài chính kinh tế, tạo ấn tượng ko tốt đối với nhà tài trợ, gây ra tác động bất lợi tới công việc thu hút vốn đầu tư ODA, hậu quả những nhà tài trợ vốn ODA sẽ chuyển hướng sang tài trợ cho tất cả quốc gia với mức độ tham nhũng thấp hay quản trị tham nhũng tốt. Qua đó, Chính phủ tất cả quốc gia trên toàn cầu đặc trưng là tất cả quốc gia đang phát triển với sự cần thiết của vốn đầu tư ODA sẽ cần phải chú trọng tới cải thiện chất lượng quản trị tham nhũng.

 Chất lượng quản trị tham nhũng của một quốc gia thể hiện ở mức độ quản trị tham nhũng hoặc giám định mức độ tham nhũng ở quốc gia đó, do đó một số chỉ số đo lường chất lượng quản trị tham nhũng bao gồm: chỉ số quản trị toàn cầu – kiểm soát tham nhũng (WGI-CC), chỉ số tham nhũng (ICRG), chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI), chỉ số liêm chính toàn cầu (GII).

Chỉ số quản trị toàn cầu – kiểm soát tham nhũng (WGI-CC, World Governance Indicators-Management of Corruption) của những nhà nghiên cứu của Nhà băng Toàn cầu (WB) xây dựng vào cuối những năm 1990, đây là chỉ số được sử dụng nhiều nhất trong những nghiên cứu thực nghiệm. Chỉ số kiểm soát tham nhũng đo lường cảm nhận mức độ khả năng quyền lực công chúng chống lại lợi ích tư nhân, bao gồm cả chống tham nhũng dưới hình thức nhỏ lẻ và quy mô to. Chỉ số kiểm soát tham nhũng WGI-CC với thang đo từ -2,5 tới 2,5 tương ứng với mức độ chất lượng quản trị tham nhũng từ yếu kém tới rất tốt.

Chỉ số tham nhũng của Tổ chức Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro Quốc gia (ICRG – Worldwide Nation Danger Information). Đây là chỉ số giám định tham nhũng trong hệ thống chính trị, chỉ số này đo lường mức độ thực tế và tiềm năng xảy ra tham nhũng dưới những hình thức: sự bảo trợ quá mức, lạm dụng chức quyền, hối lộ hối lộ và nghi ngờ mối quan hệ mật thiết giữa chính trị và kinh tế. Chỉ số này với thang điểm từ 0 tới 6 theo mức độ rủi ro tham nhũng từ cao tới thấp. Quốc gia với chỉ số ICRG điểm bằng 0 đồng nghĩa rủi ro tham nhũng cao nhất.

Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI- Corruption Perceptions Index) của Tổ chức Sáng tỏ Quốc tế (Transparency Worldwide). Chỉ số này được đưa ra vào năm 1990 lúc lần trước nhất những nhà nghiên cứu tiến hành cuộc khảo sát dân cư với quy mô to diễn ra ở tất cả quốc gia khắp toàn cầu, tổ chức này tìm cách tập hợp những chỉ số về nhận thức tham nhũng thông qua những thắc mắc về nhận thức và trải nghiệm cấn đề tham nhũng, giám định cảm nhận của những người với thông tin về mức độ tham nhũng và được chấm điểm theo thang đo từ 0 tới 10 tương ứng với mức độ tham nhũng cao tới tham nhũng thấp. Mức độ tham nhũng này phản ánh mức độ chi trả tham nhũng và những rào cản bị áp đặt trong hoạt động kinh doanh (Lambsdorff, 2003).

Chỉ số liêm chính toàn cầu của Tổ chức Liêm chính Toàn cầu (GII – International Integrity Index). Chỉ số GII sử dụng phương pháp giám định chuyên gia nhằm tập trung vào giám định yếu tố chính sách và khía cạnh thiết chế của chống tham nhũng để xúc tiến liêm chính công khai, chỉ số này do chính những nhóm nhà nghiên cứu và những nhà báo tại nước được giám định thực hiện. Chỉ số GII giám định sự tồn tại và hiệu quả của cơ chế chống tham nhũng dựa trên hơn 290 chỉ số riêng rẽ đƣợc phân thành 6 nhóm chính đó là: (i) xã hội dân sự, thông tin công khai và tin báo, (ii) bầu cử, (iii) trách nhiệm giải trình của chính phủ, (iv) quản trị và nhà sản xuất dân sự, (v) giám sát và quản lý, (vi) chống tham nhũng và pháp quyền.

5/5 - (1 bình chọn)

Bình luận