Sự ác cảm của người tiêu dùng

Khái niệm “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” (client animosity) từ lúc ra đời đã tạo ra nhiều sự tranh luận về khái niệm của khái niệm cũng như kết quả kiểm định.

Klein và cùng sự. (1998, trang 90) khái niệm khái niệm “Sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” là “tàn tích của những xúc cảm ghét bỏ một cách mạnh mẽ liên quan tới những hành động quân sự đã xảy ra, những biến cố kinh tế hoặc chính trị”. Nhóm Klein đã lấy biến cố lịch sử của trận chiến tranh toàn cầu lần thứ hai làm nền tảng cho sự ác cảm của người dân TQ. Kết quả nghiên cứu của Klein và cùng sự. (1998) đã chỉ ra rằng sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng TQ với tác động tích cực tới hành vi tẩy chay hàng hóa xuất xứ từ Nhật. Những tác giả này cũng xây dựng những nội dung đo lường liên quan tới hai khái niệm nghiên cứu: “sự ác cảm do chiến tranh” (warfare animosity) và “sự ác cảm do kinh tế” (financial animosity). Nếu như “sự ác cảm do chiến tranh” lấy bối cảnh xung đột chiến tranh trong quá khứ làm nền, thì “sự ác cảm do kinh tế” lấy lý do chính là sự bất đồng đẳng thương nghiệp giữa hai nước. Kể từ nghiên cứu của nhóm Klein, những nghiên cứu sau đó đã tiếp tục kiểm định mô phỏng với những bối cảnh kinh tế, chính trị tùy thuộc từng nước khác nhau. Nghiên cứu của Klein (2002) lấy biến cố trận chiến Trân Châu Cảng để thể hiện “sự ác cảm do chiến tranh” của người tiêu tiêu dùng Mỹ đối với hàng hóa Nhật. Nijssen và Douglas (2004) lại nói tới sự xâm lược của Đức đối với Hà Lan trong chiến tranh toàn cầu lần hai. Ettenson và Klein (2005) lấy sự ác cảm của người Úc với việc thử vũ khí hạt nhân trên biển Nam Thái Bình Dương của Pháp. Những nghiên cứu của những tác giả/nhóm tác giả kể trên đều lấy sự bất đồng đẳng trong thương nghiệp giữa những nước (vd., tình trạng nhập siêu) làm nền tảng cho “sự ác cảm về kinh tế”.

Dựa trên thuyết qui kết (attribution concept) của Weiner (1985, 1986) những tác giả Jung và cùng sự. (2002)11, Ang và cùng sự. (2004) phân loại “sự ác cảm” thành bốn nhóm đặt tên là “ác cảm mang tính ổn định” (steady animosity), “ác cảm mang tính tình huống” (situational animosity), “ác cảm mang tính tư nhân” (private animosity) và “ác cảm mang tính quốc gia” (nationwide animosity). Trong đó “ác cảm mang tính ổn định” nhắc tới xúc cảm tiêu cực xuất phát từ bối cảnh lịch sử ví dụ như kinh tế hay quân sự giữa tất cả quốc gia; “ác cảm mang tính tình huống” nhắc tới xúc cảm tiêu cực liên quan tới một tình huống cụ thể vừa xảy ra. Ví dụ, cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á được người dân tất cả quốc gia như Thái Lan, Indonesia, Malaixia và Singapore đổ lỗi cho tất cả quốc gia như Nhật, Hàn, Mỹ và họ đã tẩy chay hàng hóa với xuất xứ từ tất cả quốc gia đã gây ra khủng hoảng.

Ở nhánh còn lại, Ang và cùng sự. (2004) xem “ác cảm mang tính tư nhân” là ác cảm ở cấp vi mô, người tiêu tiêu dùng thể hiện thái độ ác cảm này qua những biểu hiện như sự giận dữ tư nhân vì nghỉ việc làm, cắt giảm chi tiêu cho cuộc sống. Trong lúc đó, “ác cảm mang tính quốc gia” là ác cảm vĩ mô, “người tiêu tiêu dùng thể hiện sự ác cảm của họ về sự tác động của khủng hoảng kinh tế lên quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia” (Ang và cùng sự. 2004, trang 192).

Leong và cùng sự. (2008) dựa trên sự phân loại của Ang và cùng sự.

Hoffmann và cùng sự. (2011) nhận xét mô phỏng của Klein và cùng sự. (1998) với quá nhiều hạn chế vì ko thể tổng quát hóa mô phỏng lúc thực hiện nghiên cứu trong bối cảnh đa quốc gia. Nhóm này lập luận “thái độ ác cảm chung” ko chỉ xuất phát từ những xung đột về chiến tranh, chính trị, kinh tế mà nó xuất phát từ những tác nhân: “cảm nhận mối đe dọa”, “thái độ phản đối chính trị”, “trải nghiệm tiêu cực mang tính tư nhân” (perceived menace, antithetical political attitudes, adverse private experiences). Những yếu tố này với thể tác động tới “thái độ ác cảm chung” và “thái độ ác cảm chung” tác động tới hành vi tẩy chay. Điểm đáng chú ý là đối với khái niệm “cảm nhận mối đe dọa”, Hoffmann và cùng sự. (2011) gom những nội dung đo lường thuộc khái niệm “ác cảm của người tiêu tiêu dùng” ở nhóm Klein thành khái niệm “cảm nhận mối de dọa” vì nhóm Hoffmann cho rằng người tiêu tiêu dùng cảm thấy bị de dọa bởi những nguyên nhân như “chiến tranh, thử hạt nhân, lợi dụng kinh tế” (trang 238).

Little và Singh (2015) chấp nhận khái niệm của Klein và cùng sự. (1998) nhưng nhóm tác giả cho rằng ko nên bó hẹp “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” của một quốc gia đối với một quốc gia khác trong bối cảnh xung đột chiến tranh, kinh tế, quân sự mà nên mở rộng ra bất kỳ biến cố gì mà một quốc gia gây ra cho một quốc gia khác. Những tác giả vẫn sử dụng khái niệm nghiên cứu “ác cảm của người tiêu tiêu dùng” đồng thời tạo ra bốn biến cố thử nghiệm và xem xét sự khác biệt giữa những mức độ ác cảm của người tiêu tiêu dùng đối với bốn biến cố.

Harmeling và cùng sự. (2015) dựa trên lý thuyết “thẩm định mang tính nhận thức của xúc cảm” (Lazarus và Folkman, 1985; Roseman, 1996) đã nhận định khái niệm nghiên cứu “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” nên được tiếp cận dưới góc nhìn “những thẩm định mang tính nhận thức”. Dưới góc nhìn này, Harmeling và cùng sự. (2015, trang 4) cho rằng: “trong bối cảnh sự ác cảm, việc hình thành nhận thức nhắc tới những thẩm định của người tiêu tiêu dùng về những thảm kịch hoặc những hiểm họa tiềm tàng trong tương lai với thể xảy ra với quốc gia của họ, những thẩm định mang tính nhận thức tương tự được gọi là những thẩm định mang tính ác cảm”.

Qua những khái niệm mà những nghiên cứu trước đề xuất, với thể rút ra nhận xét rằng những nhóm Jung, Ang và Leong chỉ sắp xếp, phân loại lại khái niệm gốc của nhóm Klein dựa trên thuyết qui kết để tách nhóm những biến cố. Tuy vậy, những tác giả này chỉ dựa trên biến cố về kinh tế xảy ra ở giai đoạn 1997 – 200012 để thẩm định mức độ ác cảm của người dân. Việc phân loại và cách thức nghiên cứu của những tác giả chưa chứng minh cho tính khái quát hóa của khái niệm. Lý do là lúc biến cố này qua đi, những biến cố khác lại xảy ra trong tương lai đối với tất cả quốc gia. Chưa thể khẳng định khái niệm mà những tác giả đề xuất với thể đo lường độ tin cậy và trị giá ở những quốc gia đối với những biến cố xảy ra khác nhau. Chưa thấy những nghiên cứu sau đó kiểm chứng điều này.

Khái niệm mới của nhóm Hoffmann đã tách bạch ra ba nhóm tác nhân tác động tới “sự ác cảm”, những tác giả cho rằng những khái niệm mới này với “tính linh hoạt và khái quát cao, với thể vận dụng cho nhiều quốc gia […]” (Hoffmann và cùng sự. 2011, trang 238). Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Hoffmann và cùng sự còn chưa nhất quán lúc những tác giả kiểm định và so sánh tại những thị trường khác nhau và những tác giả cũng khuyên rằng những nghiên cứu tiếp theo nên thực hiện nghiên cứu khám phá. Ngoài ra cho tới thời khắc hiện tại, chưa với bằng cớ cho thấy khái niệm mới của nhóm Hoffmann với thể linh hoạt và khái quát cao như nhóm tác giả nhận định vì cũng tương tự như những kết quả từ nghiên cứu của Jung, Ang, Leong và cùng sự. (2008), chưa thấy những nghiên cứu tiếp theo kiểm định và vận dụng khái niệm do nhóm Hoffmann đề xuất.

Khái niệm “thẩm định mang tính ác cảm” của nhóm Harmeling với nội dung tập trung vào sự thẩm định của người tiêu tiêu dùng lên sự xung đột giữa hai quốc gia. So sánh giữa những tác giả với nhau, một số điểm tương đồng và khác biệt từ khái niệm nghiên cứu được rút ra:

Về điểm tương đồng, khái niệm “thẩm định mang tính ác cảm” của nhóm Harmeling thể hiện sự thẩm định của người tiêu tiêu dùng về những biến cố đã xảy ra, cụ thể là xung đột quân sự giữa TQ và Nhật, xung đột chính trị giữa Nga và Mỹ. Sự thẩm định của của người tiêu tiêu dùng về một hay vài biến cố nào đó đã được Klein và cùng sự. (1998), Ang và cùng sự. (2004), Leong và cùng sự. (2008), Hoffmann và cùng sự. (2011) nhắc. Khái niệm “thẩm định mang tính ác cảm” của nhóm Harmeling với một nội dung giống nội dung khái niệm “cảm nhận đe dọa” của nhóm Hoffmann.

Tuy nhiên, khác biệt to nhất là cách tiếp cận nhận thức và/ hoặc xúc cảm đối với bối cảnh gây ra ác cảm. Nếu như những tác giả Klein và cùng sự. (1998), Jung và cùng sự. (2002); Ang và cùng sự. (2004), Leong và cùng sự. (2008); Mrad và cùng sự. (2014) gom chung thành phần nhận thức và xúc cảm vào trong cùng một nội dung của những khái niệm thì Hoffmann và cùng sự. (2011) và Harmeling và cùng sự. (2015) đã tách riêng phần nhận thức và xúc cảm.

Nhưng khác biệt giữa nhóm Hoffmann và Harmeling nằm ở điểm: nhóm Hoffmann vẫn giữ nguyên khái niệm “ác cảm chung” (normal animosity) trong mô phỏng gốc của Klein và cùng sự. (1998), “ác cảm chung” là xúc cảm tiêu cực và ba tác nhân tác động tới “ác cảm chung” vừa thuộc nhận thức của người tiêu tiêu dùng, vừa là thái độ của họ. Trong lúc đó, nhóm Harmeling xem một phần những tác nhân trong mô phỏng Hoffmann và những tác giả khác là “thẩm định mang tính ác cảm” mà thẩm định này chỉ tập trung phần “nhận thức”. Định hướng này dẫn tới sự hình thành mối quan hệ giữa nhận thức và xúc cảm mà phần xúc cảm trong mô phỏng Harmeling được tách thành hai nhóm được tác giả gọi là “những xúc cảm đấu tranh” (agonistic feelings) và “những xúc cảm né tránh” (retreat feelings).

Từ những nhận xét trên, nghiên cứu này ủng hộ đề xuất của Little và Singh (2015) ở luận điểm ko nên bó hẹp sự ác cảm trong biến cố xung đột quân sự, chính trị, kinh tế. Nhà nghiên cứu nên mở rộng ra bất kỳ biến cố nào với thể gây ra sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng. Lý do cho sự ủng hộ đề xuất của nhóm Little căn cứ trên những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ác cảm liên quan tới xung đột văn hóa trong đó xung đột về tôn giáo cũng gây ra sự ác cảm cho người tiêu tiêu dùng hoặc xung đột về sắc tộc. Nghiên cứu của Abosag và Farah (2014) cho thấy với mối quan hệ cùng chiều giữa “ác cảm mang tính tôn giáo” và “hành vi tẩy chay” hàng hóa Đan Mạch ở tất cả quốc gia thuộc khu vực Trung Đông vì hành động bôi nhọ thánh Mohamet của những tạp chí Đan Mạch. Trước đó, Al-Hyari và cùng sự.(2012); Abd-Razak và Abdul-Talib (2012) sau lúc tổng kết lý thuyết và phân tích biến cố xung đột tôn giáo ở tất cả quốc gia Trung Đông cũng đã đề xuất mô phỏng với mối quan hệ giữa “ác cảm tôn giáo” và “hành vi tẩy chay”.

Ngoài ra, nghiên cứu này ủng hộ luận điểm tách bạch hai thành phần nhận thức và xúc cảm của nhóm Harmeling và cùng sự. (2015) bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, quan niệm của nhóm Harmeling và cùng sự. (2015) nhất quán với những lý thuyết nền về “nhận thức – xúc cảm” của những nhà tâm lý học đi trước đề xuất như (Schachter và Singer, 1962; Averill, 1983; Lazarus và Folkman, 1985; Lazarus, 1991; Roseman, 1991). Đặc trưng là thuyết “thẩm định nhận thức của xúc cảm” của (Lazarus, 1982, 1984, 1991). Tác giả này cho rằng lúc con người tiếp nhận một biến cố thì họ sẽ thẩm định những biến cố đó và việc thẩm định khác nhau sẽ hình thành những xúc cảm khác nhau. Những xúc cảm tích cực hay tiêu cực sẽ dẫn dến những phản ứng khác nhau của con người. Dưới lăng kính của Harmeling và cùng sự, khái niệm “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” trở thành “thẩm định mang tính ác cảm”.

Thứ hai, theo Harmeling và cùng sự. (2015), việc gom hai thành phần “nhận thức” và “xúc cảm” trong cùng một khái niệm được đặt tên “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” dẫn tới sự tranh chấp về kết quả kiểm định mối quan hệ giữa “sự ác cảm của người tiêu tiêu dùng” và “thẩm định sản phẩm” (sản xuất từ tất cả quốc gia gây ra ác cảm). Nghiên cứu này còn trông thấy một số những kết quả tranh chấp khác từ những nghiên cứu. Phần tiếp theo sẽ trình bày những vấn đề này một cách chi tiết.

Rate this post

Bình luận