Thực trạng xuất khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện qua các nước EU

Điện thoại và linh kiện

Trong những năm trở lại đây, những chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam đã đóng góp vào việc tạo ra khả năng sản xuất mới cho nhu chuồng tiêu sử dụng ở thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu. Trong đó, phải kể tới vai trò của những doanh nghiệp với vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhất là trong ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu với nhiều mặt hàng chủ lực với trị giá xuất khẩu cao như: điện thoại và những loại linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị,.

Mặt hàng điện thoại những loại và linh kiện của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường EU từ năm 2011 nhưng đã đạt trị giá xuất khẩu trên 9,7 tỷ USD vào năm 2015 và 11 tỷ USD vào năm 2016. Những nhóm mặt hàng trên chiếm tỷ trọng khoảng 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Trong năm 2017, nhóm hàng này tiếp tục nằm trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU với kim ngạch 11,95 tỷ USD. Và trong 7 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu này đã tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 7,79 tỷ USD. Nhóm hàng này với những tăng trưởng khả quan trong vài năm qua và đang tiếp tục với xu hướng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, đóng góp tỷ trọng đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo giám định, khoảng 40% tổng lượng điện thoại hiện nay trên toàn cầu do Samsung sản xuất với nguồn gốc xuất xứ tại Việt Nam.

Sở hữu được những kết quả này phần to là do kim ngạch xuất khẩu thuộc về khối doanh nghiệp FDI vào Việt Nam nhưng điều này cũng cho thấy sự phụ thuộc ngày càng nhiều của Việt Nam vào khối doanh nghiệp này kế bên những kết quả đó, hoạt động xuất khẩu nhóm hàng điện thoại và linh kiện vẫn còn những hạn chế. Tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu từ khối doanh nghiệp FDI sản xuất, trong lúc khối doanh nghiệp FDI lại phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, nên những biến động của nhóm hàng này sẽ với tác động mạnh mẽ tới kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Doanh nghiệp trong nước chỉ thực hiện những giai đoạn lắp ráp, gia công, phân phối linh kiện giản đơn. Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp sản xuất trong nước còn kém. Vai trò thực sự của những doanh nghiệp điện tử trong nước rất mờ nhạt, hầu như chỉ khai thác sản phẩm cũ với mức lợi nhuận rất thấp và GTGT thấp nên năng lực khó khăn của những doanh nghiệp Việt Nam kém hơn nhiều so với doanh nghiệp nước ngoài.

Tương tự, để tránh phụ thuộc vào những doanh nghiệp FDI trong sản xuất nhóm hàng điện thoại và linh kiện, Việt Nam cần xây dựng môi trường kinh doanh công khai và sáng tỏ, với tính khó khăn trong đó những thành phần kinh tế đều phải được đối xử đồng đẳng để ko làm tác động tới sự đóng góp của những doanh nghiệp.

Rate this post

Bình luận