Từ phép đo tài chính đến ghi bảng cân đối như thế nào?

   Những phép đo tài chính như thu nhập trên mỗi cổ phiếu và tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu, cho chúng ta biết nhiều điều về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như những thế hệ nhà doanh nghiệp đã nỗ lực quản lý bằng cách tiêu dùng những phép đo này. Nhưng những phép đo truyền thống này ko phải là những điểm nhấn để làm động lực xúc tiến sự việc phát triển, mà chúng là kết quả của hàng loạt những hoạt động khác. Chúng là những cột mốc để từ đó nhìn lại, là sản phẩm của những hoạt động trong quá khứ. Tệ hon nữa, phép đo này với thể đưa ra những tín hiệu sai trái. Ví dụ, những số đo lợi nhuận với vẻ tốt trong năm nay với thể là kết quả của việc cắt giảm nhiều hoạt động phát triển sản phẩm mới và huấn luyện viên chức. Nhìn ngoại hình, việc kinh doanh rất tích cực, nhưng những khoản cắt giảm này sẽ gây tổn hại nghiêm trọng tới lợi nhuận của doanh nghiệp đó trong tương lai.
  Do bị cản trở bởi sự thiếu thỏa đáng của những hệ thống đo lường hiệu suất hoạt động truyền thống, một số nhà quản lý chuyển sự tập trung từ thu nhập trên mỗi cổ phiếu và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sang những hoạt động kinh doanh tạo ra những khoản này. Những nhà quản lý này theo phương châm “Hãy cải thiện hoạt động, thành tựu sẽ theo Saun. Tuy nhiên, sự cải thiện nào đóng vai trò quan yếu nhất? Đâu là động lực thật sự dẫn tới hiệu suất hoạt động trong khoảng thời gian dài và mấu chốt? Để trả lời cho thắc mắc này, Robert Kaplan và David Norton đã tiến hành nghiên cứu một số doanh nghiệp được xếp hàng đầu. Từ kết quả nghiên cứu, họ đã phát triển một bảng ghi cân đối – một hệ thống đo lường giám định hiệu suất hoạt động mới giúp những nhà quản lý cấp cao với một chiếc nhìn nhanh chóng nhưng toàn diện về kinh doanh. Bảng ghi cân đối của họ gồm những số đo tài chính thể hiện kết quả những hành động đã thực hiện trong quá khứ. Và ngoài ra, nó còn bổ sung vào những chi số này ba phương pháp giám định hoạt động liên quan trực tiếp tới việc thỏa mãn khách hàng, những thứ tự nội bộ, năng lực học hỏi và phát triển của doanh nghiệp – những hoạt động tác động tới hiệu suất hoạt động tài chính trong tương lai.
  Kaplan và Norton đã so sánh bảng ghi cân đối vói những số liệu ghi trong buồng lái tàu bay như sau: “Đối với một nhiệm vụ phức tạp như định vị đường đi và lái tàu bay, những phi công cần thông tin chi tiết về nhiều vấn đề liên quan tới chuyến bay. Họ cần thông tin về nhiên liệu, tốc độ bay, độ cao, vị trí phương hướng, đích tới, và những chỉ số khác tóm tắt về môi trường hiện tại và dự đoán. Chỉ dựa vào một yếu tố đơn nhất là khôn xiết nguy hiểm. Tương tự tương tự, tính phức tạp của công việc quản lý doanh nghiệp ngày nay đòi hỏi những nhà quản lý phải với khả năng nhìn thấy hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề cùng một lúc”.
  Bảng ghi cân đối của Kaplan và Norton sử dụng bốn quan niệm để giám định hiệu suất hoạt động và khuyến khích công việc quản lý. Nhìn chung, những quan niệm này giúp cấp quản lý trả lời kịp thời bốn thắc mắc chính sau:
• Khách hàng nhìn nhận chúng ta như thế nào? (quan niệm khách hàng)
• Chúng ta phải làm gi để trờ nên tốt hơn? (quan niệm nội bộ đơn vị)
• Chúng ta với thể tiếp tục cải thiện và tạo ra trị giá ko? (quan niệm học hỏi và đổi mới)
• Chúng ta quan tâm tới cổ đông như thế nào? (quan niệm tài chính)
Hình 2-1 thể hiện mối liên hệ giữa bốn quan niệm này. Lợi thế của bảng ghi cân đối so vói những phương pháp giám định truyền thống là ba trong số bốn quan niệm nêu trên (khách hàng, đổi mới, nội bộ) là đòn bẩy mà những nhà quản lý với thể sử dụng để cải thiện kết quả trong tương lai. Tuy nhiên, bất lợi của phương pháp này là ko thể công bố rộng rãi, và như thế việc so sánh đối chiếu những doanh nghiệp đối thủ khó khăn ko thể thực hiện được. Ngoài ra, phương pháp này ko giúp những phân tích của chúng ta dự đoán xu hướng hàng nàm trong một số ngành nghề cụ thể của hoạt động doanh nghiệp, như tỷ lệ thay thế hàng tồn kho và khả năng trả tiền nợ. Tuy nhiên, nếu kết hợp cả hai, bảng ghi cân đối và phương pháp phân tích tỷ lệ truyền thống với thể giúp những nhà quản lý hiểu và cải thiện hoạt động của họ.

Những BCTC giúp bạn biết được điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp, cũng như những khía cạnh khác nhau về hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp đó. Nhưng ko chỉ giới hạn lại ở đó, người đọc BCTC phải nghiên cứu, so sánh và phân tích để với thể hiểu được. Chương này giúp bạn biết cách sử dụng những tỷ suất và những báo cáo dạng tỷ lệ phần trăm để hiểu rõ về khả năng sinh lợi, những hoạt động kinh doanh chính, khả năng trả tiền nợ, và cơ cấu nợ của một doanh nghiệp. Đặc trưng, cần quan tâm tới ba chỉ số sau:

■ Hệ sô khả năng trả tiền nợ. Thể hiện khả năng doanh nghiệp đáp ứng những nghĩa vụ tài chính. Tỷ suất này bao gồm: hệ số khả năng trả tiền nợ ngắn hạn, hệ số khả năng trả tiền nợ nhanh, tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ bù đắp lãi suất.

Điều đáng tiếc là những BCTC thể hiện quá khứ và bị hạn chế nghiêm nhặt đối vói những phép đo tài chính. Là một nhà quản lý, bạn cần những thông số hướng dẫn và những chuẩn mực tính toán phi tài chính để hiểu và dẫn dắt doanh nghiệp. Chương này đã giới thiệu về bâng ghi cân đối mà nhiều đơn vị ứng dụng để tương trợ cho những phép đo tài chính của mình.

4/5 - (1 bình chọn)

Bình luận