Các nghiên cứu về “Trách nhiệm xã hội”

Thuật ngữ CSR chính thức xuất hiện trong nghiên cứu của Bowen (1953) nhằm mục đích kêu gọi DN ko làm tổn hại tới những quyền và lợi ích của người khác. Từ đó tới nay những nghiên cứu TNXH tập trung vào một số lý thuyết nền tảng:

Lý thuyết các đối tác liên quan: Trong TNXH nhiều học giả đã đề xuất những quyết định quản lý ko nên chỉ thiết kế để làm hài lòng những cổ đông, mà còn hài lòng  cả các đối tác liên quan như NLĐ, khách hàng, nhà phân phối [109]. Freenam (1984) nhận định: “vì mang những hành động tiêu cực, như làm ô nhiễm môi trường, lạm dụng viên chức sẽ dẫn tới những phản ứng dữ dội từ các đối tác liên quan”. Carroll, (1991) cho rằng các đối tác liên quan được chia thành hai nhóm: nhóm liên quan chủ yếu là những tư nhân/tổ chức liên quan trực tiếp tới DN trong hoạt động kinh tế   và mang một hợp đồng công khai (cổ đông, NLĐ, khách hàng, nhà cung ứng) và  nhóm bên liên quan thứ yếu là những đối tượng mang quan hệ tự nguyện/ko tự nguyện với DN mang tính đạo đức (hiệp hội, cùng đồng, những tổ  chức phi chính  phủ, địa phương). Các đối tác liên quan đều mong muốn DN thực hiện tốt những quyền lợi cho họ (xem hình 2- phụ lục 07). Trong đó trách nhiệm với NLĐ chính là trách nhiệm nội tại quan yếu nhất của DN; Cũng tương tự, ở Việt Nam nghiên cứu của: Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2008) nhận định việc thăng bằng lợi ích của các đối tác liên quan được đặt ra như một nội dung then chốt trong quản trị DN.  Người quản lý DN phải điều hòa lợi ích của các đối tác như NLĐ, cổ đông, khách hàng, chính quyền, cùng đồng, chủ nợ, nhà phân phối nhà cung  cấp, hiệp hội  ngành nghề… Mỗi bên liên quan mang lợi ích đặc thù ở những mức độ khác nhau; lý đề xuất các đối tác liên quan mà những DN phải quan tâm là NLĐ, khách hàng, nhà cung ứng, cùng đồng. Trong đó NLĐ là một đối  tượng nòng cột bên trong DN với việc  cải thiện điều kiện làm việc, ATVSLĐ, đãi ngộ lương, phúc lợi xứng đáng để họ tăng đời sống vật chất và ý thức; Nguyễn Thị Minh Châu, (2013) và nhiều nghiên cứu mang liên quan cho rằng mặc dù DN với điều kiện nguồn lực bị giới hạn nhưng các đối tác liên quan chủ yếu vẫn dành được nhiều sự quan tâm của DN trong đó NLĐ rất quan tâm tới trong các đối tác liên quan của DN.

Lý thuyết cấp độ trách nhiệm: Carroll (1999) cho rằng, TNXH bao hàm những thành tố trách nhiệm: kinh tế, pháp luật, đạo đức và thiện nguyện  – những nội   dung này đã được A.Carroll thiết kế thành kim tự tháp TNXH với 4 nấc tầng (xem hình 3- phụ lục 07). Kế thừa ý tưởng của Carroll, Maignan& Ferrell (2005) và  nhiều tác giả sau này rất ủng tiếp cận này.  Tại Việt Nam lý thuyết của Carroll  được vận dụng vào những điều kiện khác nhau của những ngành, ngành nghề, những loại hình DN từ những năm 2000, như trong nghiên cứu của: Nguyễn Đình Cung và  Lưu Minh Đức (2008) bao gồm trách nhiệm kinh tế – tối đa hóa lợi nhuận, cạn tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điền kiện tiên quyết, hàng đầu, trách nhiệm tuân thủ pháp luật là một phần bản kế ước giữa DN và xã hội, trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, trị giá được xã hội chấp nhận nhưng chưa được mã hóa vào văn   bản luật. Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tài những khoảng “xám”, đúng – sai mập mờ nên chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật. Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vượt ra khỏi sự mong đợi của xã hội như là trả mức lương khó khăn hay tương trợ nhà ở cho NLĐ; Nghiên cứu của Trương Nam Thắng và Margaret (2014); Nguyễn Ngọc Thắng (2015) với những nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn. DN cần mang trách nhiệm hoàn toàn với xã hội đồng thời đáp ứng cả 4 loại nghĩa vụ mang tức thị DN phải làm ăn mang lãi, tuân thủ pháp luật, hành  vi mang đạo đức và là một công dân tốt của xã hội; Lê Thị Thu Thủy (2013) và những nghiên cứu mang liên quan khẳng định trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm pháp lý là hai phòng ban cơ bản, đề xuất ko thể thiếu của TNXH. Trách nhiệm đạo đức, từ thiện là sự tự nguyện của DN và trách nhiệm từ thiện đứng ở vị trí cao nhất trong TNXH của DN, thể hiện rõ tầm quan yếu của yếu tố này trong việc  thực hiện  hình tượng của một DN công dân kiểu mẫu trong xã hội.

Rate this post

Bình luận