Sự phát triển thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt nam được thành lập vào tháng 7 năm 2000, Sở giao dịch chứng khoán thành thị trấn Hồ Chí Minh (HOSE) khởi đầu hoạt động từ năm 2000 và Sở giao dịch Hà Nội (HNX) khởi đầu hoạt động từ năm 2004. Sau sắp 20 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã sở hữu sự phát triển nhanh chóng và đóng vai trò quan yếu trong việc xúc tiến đầu tư, huy động vốn và góp phần tăng trưởng kinh tế.

Chúng ta sẽ tiến hành giám định sự phát triển của TTCK Việt nam trên 3 yếu tố là: Số lượng tổ chức niêm yết, tổng trị giá vốn hóa và số lượng tài khoản của những nhà đầu tư.

a) Về số lượng tổ chức niêm yết

Năm 2007, sau 7 năm hoạt động số tổ chức tham gia niêm yết là 253, trung bình mỗi năm tăng thêm 35 tổ chức tham gia niêm yết. Tính tới năm 2017, số lượng tổ chức niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch là 717 tổ chức, bình quân mức tăng hàng năm là 42 tổ chức niêm yết, tăng 1,83 lần (Biểu đồ 2.1). Trong đó tốc độ tăng số tổ chức niêm yết trên thị trường nhanh nhất vào giai đoạn 2007-2010 (từ 253 tổ chức lên 647 tổ chức).

b) Trị giá vốn hóa

Trị giá vốn hóa trên thị trường sở hữu sự tăng trưởng nhanh từ mức 492.900 tỷ đồng năm 2007 lên mức 3.360.000 tỷ đồng năm 2017, tăng 5,8 lần. Tương tự, tới năm 2017 trị giá vốn hóa bình quân một tổ chức niêm yết trên thị trường đã tăng lên 3,2 lần so với năm 2007, cho thấy quy mô vốn của những tổ chức niêm yết trên thị trường đã tăng theo chuỗi thời kì trong giai đoạn 2007-2017.Tuy số lượng tổ chức niêm yết giai đoạn 2011-2016 ko tăng và sở hữu xu hướng giảm nhẹ. Trong lúc đó, trị giá vốn hóa giai đoạn này vẫn tăng nhưng với tốc độ chậm và ngay cả lúc trị giá vốn hóa trên thị trường năm 2011 giảm trong lúc số tổ chức niêm yết vẫn tăng, điều này cho thấy, trong giai đoạn 2007-2017, mặc dù số lượng tổ chức niêm yết trên thị trường và trị giá vốn hóa của TTCK Việt nam đều sở hữu xu hướng tăng khá đồng bộ theo chuỗi thời kì (với  đối với số lượng tổ chức niêm yết và  đối với trị giá vốn hóa). Để kết luận cụ thể hơn về quan hệ giữa 2 đại lượng này trên TTCK Việt nam giai đoạn 2007-2017, chúng ta tiến hành xem xét mối tương quan giữa số lượng tổ chức niêm yết với trị giá vốn hóa thị trường tại Biểu đồ 2.3. Về cơ bản số lượng tổ chức niêm yết tăng sở hữu liên quan tới trị giá vốn hóa thị trường tăng.

Tuy nhiên, mối quan hệ này là ko kiên cố ( ), việc tăng số lượng tổ chức niêm yết theo chuỗi thời kì chỉ giảng giải được việc tăng trị giá vốn hóa trên thị trường theo chuỗi thời kì ở mức độ 25,7%.

Về số lượng nhà đầu tư

Số lượng nhà đầu tư trên TTCK Việt nam giai đoạn 2007-2017 đã tăng mạnh. Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán mở tại những tổ chức chứng khoán tới cuối năm 2017 sở hữu tổng số 1.921.554 tài khoản, tăng 1.609.415 tài khoản so với năm 2007 (Biểu đồ 2.4).

Nhà đầu tư tư nhân

Số lượng tài khoản nhà đầu tư tư nhân trên thị trường chứng khoán Việt nam tăng trưởng nhanh trong thời kỳ 2007-2017, từ 312.319 tài khoản năm 2007 lên 1.921.554 tài khoản năm 2017, trong đó tài khoản nhà đầu tư tư nhân trong nước chiếm tỷ trọng to với 1.890.521 tài khoản.

Tuy nhiên, tỷ lệ số tài khoản đầu tư tư nhân với dân số Việt Nam từng năm thì tổng số tài khoản chỉ chiếm 1,4%, trong lúc thực tế số lượng tài khoản hoạt động chỉ đạt khoảng 30-40% cho thấy tỷ lệ công chúng quan tâm tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất nhỏ, sở hữu tức thị còn 98,6% số người chưa tham gia thị trường chứng khoán, một con số tiềm năng to nhà đầu tư ở Việt Nam.

Biểu đồ 2.5 cho thấy số lượng tài khoản tư nhân của những nhà đầu tư sở hữu xu hướng tăng dần nhưng tốc độ tăng ko đều. Năm 2007 là năm sở hữu tốc độ tăng tài khoản mạnh nhất, cả tài khoản đầu tư nước ngoài và trong nước đều tăng sắp gấp 4 lần. Giai đoạn năm 2007-2014, tốc độ tăng chậm hơn do tác động của khủng hoảng kinh tế, tác động của thị trường bất động sản tăng nóng, sự sụt giảm của thị trường và lợi nhuận chứng khoán, làm cho số lượng những nhà đầu tư gia tăng hay hạn chế, thậm chí rút khỏi thị trường do thua lỗ, suy giảm lòng tin.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam sở hữu thể phân loại những nhà đầu tư tư nhân như sau:

– Nhà đầu tư tư nhân là chủ những doanh nghiệp: Đây là nhóm nhà đầu tư tham gia nhiều trên thị trường, sở hữu tri thức về thị trường cao.

– Nhà đầu tư tư nhân là cán bộ, người lao động viên tại cơ quan, doanh nghiệp. Nhóm này chiếm số lượng đông đảo và mức độ tham gia phụ thuộc vào tình hình thị trường. Tuy nhóm này sở hữu quy mô đầu tư ko to, nhưng lại sở hữu quan tâm nhiều tới thị trường chứng khoán và sẵn sàng đầu tư lúc thị trường sở hữu biểu hiện sôi động. Phần to nhóm này đầu tư theo tư vấn của tổ chức môi giới chứng khoán.

– Nhà đầu tư tư nhân giỏi hoạt động chủ yếu trên thị trường chứng khoán, sở hữu tri thức, kinh nghiệm, sở hữu tiềm lực tài chính mạnh, nhạy bén trong giao dịch trên thị trường để tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

– Nhà đầu tư vãng lai đầu tư theo phong trào qua thông tin truyền thông, bạn bè đồng nghiệp. Họ thường tìm kiếm những chứng khoán đang được chào bán nóng và rủi ro cao.

Trong số những nhà đầu tư trên, nếu sở hữu chính sách thích hợp sở hữu thể thu hút thêm những nhà đầu tư chuyển từ ko chuyên sang giỏi và số lượng những nhà đầu tư tư nhân gia tăng sẽ là nhân tố quan yếu tạo nên sự sôi động của thị trường chứng khoán.

Nhà đầu tư sở hữu tổ chức

Ngoài ra, những tổ chức chứng khoán, những nhà băng thương nghiệp Với thể nói rằng, nhà đầu tư sở hữu tổ chức là thành phần rất quan yếu của thị trường chứng khoán, họ sở hữu vai trò giữ gìn, bình ổn, phát triển và định hướng thị trường chứng khoán.

Biểu đồ 2.6 cho thấy từ 2007- 2017 số lượng những tài khoản nhà đầu tư sở hữu tổ chức sở hữu sự gia tăng nhưng tốc độ tăng ko đều và tài khoản của nhà đầu tư trong nước chiếm tỷ trọng chủ yếu. Năm 2007-2008 tài khoản nhà đầu tư tổ chức tăng với tốc độ cao. Năm 2013 tài khoản đầu tư sở hữu tổ chức sở hữu sự sụt giảm, đó là sụt giảm của tài khoản đầu tư tổ chức trong nước. Từ năm 2014-2017 số lượng tài khoản của những nhà đầu tư sở hữu tổ chức sở hữu sự tăng mạnh trở lại. Tuy nhiên, số lượng nhà đầu tư sở hữu tổ chức trong nước vẫn chiếm tỷ trọng to. Số tài khoản nhà đầu tư sở hữu tổ chức trong nước năm 2017 là 8.472 và nhà đầu tư sở hữu tổ chức nước ngoài là 2.865 tài khoản. Tỷ trọng tài khoản đầu tư của nhà đầu tư sở hữu tổ chức trong nước và nước ngoài luôn từ 2,7 – 4,4 trong giai đoạn 2007-2017. Đây là tỷ lệ tương đối thích hợp tại TTCK của nền kinh tế đang phát triển.

iii) Nhà đầu tư nước ngoài

Số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài (tư nhân và tổ chức) tăng nhanh qua những năm sắp đây, tới cuối năm 2017 đạt 22.561 tài khoản, tăng 1,76 lần so với năm 2007. Trong đó, nhà đầu tư tư nhân nước ngoài là 19.696 tài khoản và nhà đầu tư sở hữu tổ chức nước ngoài là 2.865 tài khoản.

Những nhà đầu tư nước ngoài sở hữu vai trò quan yếu đối với thị trường chứng khoán Việt Nam xuất phát từ một số lý do: có thương hiệu, sở hữu tiềm lực tài chính và sở hữu tính giỏi cao trong đầu tư.

Trong thời kì nền kinh tế Việt Nam vướng mắc, kinh tế vĩ mô sở hữu biểu hiện mất ổn định, nhờ sở hữu dòng vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc tìm ròng rã một số lượng to chứng khoán đã góp phần quan yếu trong việc bình ổn giá thị trường, ổn định giao dịch thị trường chứng khoán Việt Nam, điều này sở hữu thể thấy qua kết quả giao dịch cổ phiếu, trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài. Giai đoạn 2007-2017, thị trường chứng khoán Việt nam đã thành công trong việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI), điều này làm tăng số lượng và chất lượng những nhà đầu tư chứng khoán.

Đây là kết quả tác động của những chính sách nhằm tạo sức lôi cuốn cho những nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam của Chính phủ. Cụ thể là Quyết định 146/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/7/2003, Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg về việc nâng tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài ở thị trường chứng khoán Việt nam; Thông tư 203/2015/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành hướng dẫn về giao dịch trên TTCK, một nhà đầu tư sở hữu thể mở nhiều tài khoản giao dịch và một số chính sách khác của chính phủ để ưu tiên thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Rate this post

Bình luận