Nội dung các pha của vòng đời sản phẩm quốc tế (IPLC)

Theo V.H. Kirpalani và V. Terstra, IPLC bao gồm 5 pha hay 5 giai đoạn (Phases/phases) chủ yếu sau:

1. Pha 0: Đổi mới trong nước (Home Innovation)

a. Nước khởi xướng sản phẩm mới

Lý thuyết về thương nghiệp quốc tế cũng như thực tiễn đã chỉ rõ, Mỹ là trung tâm to nhất về kinh tế, tài chính và thương nghiệp quốc tế. Đặc thù từ sau Thế chiến thứ hai, Mỹ là nước mang ưu thế tuyệt đối về kinh tế-thương mại so với những nước khác như Nhật, Đức, Anh, Pháp… Do vậy, trên thị trường toàn cầu, Mỹ cũng thường là nước đi tiên phong trongviệc đổi mới sản phẩm. Điều này còn được lý giải cụ thể hơn cả về hai mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất là mức tiêu thụ (cầu). Theo những nhà kinh tế, những tiêu thức cơ bản để giám định mức tiêu thụ của thị trường Mỹ là tổng sản phậm quốc nội (GDP), GDP bình quân đầu người và qui mô dân số. Năm 2001, GDP của Mỹ đạt 10.065tỷ USD (7) chiếm tương đương 1/3- kinh tế toàn cầu.Mức GDP bình quân đầu người của Mỹ đạt 35.277 USD, cũng vượt xa tất cả những nước thượng đỉnh G7 là:

Về dân số, cũng trong năm 2001, dân số nước Mỹ là 285 triệu người, tới năm 2005, con số này đã lên tới 298 triệu người (Nhật: 127 triệu, Đức: 82 triệu, Anh: 60 triệu, Pháp: 59 triệu, Italy: 58 và Canada: 31 triệu). Năm nay, 2006 dân số Mỹ đạt 300 triệu người (8). Thật ko vô lý lúc nói Mỹ là thị trường khổng lồ, đứng đầu toàn cầu, xã hội Mỹ là xã hội tiêu thụ, luôn đòi hỏi sản phẩm mới, chất lượng cao.

Thứ hai là khả năng sản xuất (cung). Để phục vụ cầu trong nước và xuất khẩu, khả năng cung của Mỹ cũng rất to, trước hết là khả năng tài chính (vốn đầu tư) và kỹ thuật. Mỹ thực sự là trung tâm tài chính quốc tế, từ sau Thế chiến thứ hai, riêng nước Mỹ đã chiếm tới 70% tổng lượng dự trữ vàng của Toàn cầu. Về kỹ thuật, Mỹ cũng đứng đầu toàn cầu về lực lượng những nhà khoa học to và trình độ trang thiết bị hiện đại để nghiên cứu. Những thập kỷ qua, tình trạng chảy máu não (Mind Drain) của toàn cầu vẫn diễn ra, trong đó những nhà khoa học từ nhiều nước thường di chuyển tới Mỹ.

b. Thị trường mục tiêu của sản phẩm mới

Những đơn vị to tiêu biểu (TNCs) của Mỹ thường đi tiên phong trong việc đổi mới sản phẩm do mang ưu thế về vốn và kỹ thuật, nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao. Sản phẩm mới sau quá trình đầu tư và sản xuất đều được tiêu thụ ở ngay thị trường Mỹ trong suốt pha này.

Thời kì đầu ở Mỹ, sản phẩm mới nhìn chung không phù hợp được nhu cầu đòi hỏi của thị trường khổng lồ này. Tuy nhiên, mức giá cao và suất lợi nhuận quyến rũ khiến cho cho những nhà sản xuất ráo riết mở rộng qui mô, tăng cường đầu tư máy mọc thiết bị nhằm tăng nhanh lượng sản xuất cho thị trường. Một số đơn vị mới khác, do mức lợi nhuận quyến rũ, cũng tranh thủ tiến hành sản xuất. Quá trình sản xuất khẩn trương của những đơn vị làm làm cho tổng cung tăng nhanh, dẫn tới thích ứng kịp cầu. Thời kì này, giá thành sản xuất của sản phẩm bước đầu còn tương đối cao. Cần chú ý rằng, trong pha này, điều hiển nhiên là ko mang xuất khẩu và cũng ko mang nhập khẩu. Sản xuất tăng mạnh nhưng vẫn chưa mang sản phẩm dư thừa. Toàn bộ thị trường nội địa Mỹ vẫn là thị trường mục tiêu bao trùm của những đơn vị khởi xướng sản phẩm mới.

Thời kì tiếp sau, lợi nhuận quyến rũ vẫn xúc tiến mọi nỗ lực của những nhà sản xuất. Về cơ bản, trên thị trường Mỹ, cung đã đáp ứng kịp cầu ở mức cao nhất. Tuy nhiên, sản xuất vẫn tăng vì mục tiêu lợi nhuận, trong lúc mức tiêu thụ nói chung đã bão hoà. Theo thời kì, tình hình đó thế tất dẫn tới việc dư thừa sản phẩm mới ở thị trường nội địa. Đó cũng là bước chuyển tiếp sang pha sau của IPLC.

2. Pha 1: Đổi mới ngoài nước (Abroad Innovation)

a. Xâm nhập quốc tế

Xâm nhập quốc tế thông qua xuất khẩu sản phẩm mới là nét vượt trội của pha này và cũng là thực chất của IPLC. Theo P. Kotler và V.Terpstra, đây là pha khởi đầu xuất khẩu sản phẩm mới của Mỹ, gắn liền với nó là việc đẩy mạnh quảng cáo quốc tế ở những thị trường xuất khẩu mục tiêu.
Sau lúc nhu cầu của thị trường nội địa Mỹ đã được đáp ứng tương đối đầy đủ, những hãng khởi xướng của Mỹ khởi đầu tiến trình đổi mới sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài bằng con đường xuất khẩu. Tương tự, kể từ pha này, IPLC kéo dài hơn và mang lại hiệu quả kinh doanh cao hơn so với NPLC. Đây cũng là ưu việt của kinh doanh quốc tế nói chung và IPLC nói riêng. Rõ ràng xâm nhập quốc thế thông qua xuất khẩu đã đảm bảo cho đơn vị nội địa Mỹ tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất, giảm giá thành và tăng lợi nhuận. Nhìn chung, lượng xuất khẩu ở pha này thường tăng nhanh hơn so với những pha xâm nhập của NPLC.

b. Thị trường mục tiêu

Thông thường thị trường nước ngoài trước nhất mà những hãng Mỹ xâm nhập là những nước phát triển cao và tương đồng với Mỹ về kinh tế – văn hoá – xã hội, nhất là những nên văn hoá nói tiếng Anh như Canada, Anh, úc,… Trong thời kỳ đầu, xuất khẩu sang nhóm nước này chiếm 1/2 tổng xuất khẩu sản phẩm mới của Mỹ ra những nước ngoài. Sau đó, xuất khẩu cũng mở rộng nhanh chóng ra những nước khác như Đức, Italia, Pháp, Nhật và bao trùm những nước phát triển khác.

Tương tự, thị trường mục tiêu nói chung là Mỹ và những nước phát triển khác. Trên thị trường tiêu thụ sản phẩm mới, khó khăn diễn ra chủ yếu giữa những đơn vị xuất khẩu Mỹ. Ngoài ra cũng tồn tại sự khó khăn giữa những đơn vị bán hàng ngay tại thị trường nội địa Mỹ.Xuất khẩu ngày một mở rộng hơn và bước sang pha 2.

3. Pha 2: Tăng trưởng và chín muồi (Development & Maturity)

a. Xuất khẩu của Mỹ tăng nhanh và đạt mức cao nhất

– Theo V.H. Kirpalani, sự gia tăng nhu cầu ở những nước phát triển là điều kiện thuận lợi cho những nhà sản xuất mở rộng qui mô, đổi mới sản phẩm và thoả mãn người tiêu sử dụng. Trên thực tế, lợi nhuận từ đổi mới sản phẩm, là rất cao so với những sản phẩm khác. Đây là yếu tố đảm bảo cho tiêu thụ sản phẩm mới tăng nhanh.

– Kết quả gia tăng nhập khẩu của những nước phát triển thế tất dẫn tới kim ngạch xuất khẩu của Mỹ đạt cao nhất và ổn định ở mức đó, thể hiện rõ trạng thái chín muồi và bão hoà. Xin đừng quyên rằng, thời kì bão hoà này được duy trì trong một thời kì nhất định như một pha cụ thể trong IPLC. Điều này rất mang ý nghĩa thực tế trong việc quản lý và điều phối sản phẩm. Giá bán sản xuất của sản phẩm mới nhìn chung giảm và ổn định ở mức thấp nhất.

b. Khởi đầu sản xuất sản phẩm ở nước ngoài

Theo V.Terpstra và P. Kotler, việc khởi đầu sản xuất sản phẩm mới ở những nước phát triển khác là nét vượt trội trong pha này. Trên thực tế, nhóm nước phát triển nhập khẩu đã mang đủ thời kì làm quen với sản phẩm mới. Do nhu cầu sản phẩm mới mở rộng, lợi nhuận quyến rũ cho nên nhiều nhà sản xuất của những nước giàu thuộc nhóm G7 (như Nhật Bản, Đức, Anh…) cũng tận dụng ưu thế về vốn và kỹ thuật của mình để khởi đầu sản xuất tại thị trường nội địa của họ nhằm tranh thủ kiếm lời. Tiếp theo đó, việc sản xuất sản phẩm mới cũng mở rộng và bao trùm những nước phát triển khác, gắn liền với việc xuất khẩu kỹ thuật khởi đầu được thực hiện.

Theo P. Kotler, việc sản xuất sản phẩm mới ở ngoài nước Mỹ được tiến hành theo 3 hình thức phổ biến là (1) cấp giấy phép, (2) liên doanh và (3) sao chép sản phẩm (copying the product). Trong số này, hai hình thức đầu (cấp phép và liên doanh), thường diễn ra phổ biến hơn cả. Chính phủ ở những nước phát triển khác thường ủng hộ tiến trình sản xuất này bằng những chính sách thiết thực như qui định mức thuế nhập khẩu cao hoặc hạn ngạch nhập khẩu.

Tương tự, việc khởi đầu sản xuất sản phẩm mới ở những nước phát triển khác dẫn tới xuất khẩu trực tiếp của những đơn vị ở Mỹ sẽ khởi đầu sút giảm. Mặt khác, ngay tại thị trường nội địa Mỹ, tiêu thụ sản phẩm mới sau lúc đạt mức cao nhất cũng khởi đầu giảm, trước hết từ nhu cầu của tầng lớp thượng lưu, rồi tới tầng lớp trung lưu lớp lên. Đối với họ, sức lôi cuốn của sản phẩm mới ko còn đủ mạnh như trước.

c. Xuất khẩu khởi đầu sang những nước đang phát triển (ĐPT)

Tới cuối pha này, trước nguy cơ sút giảm xuất khẩu sang những nước phát triển, những hãng khởi xướng của Mỹ buộc phải tìm kiếm thị trường xuất khẩu sang những nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, mức tiêu thụ sản phẩm mới của những nước ĐPT tuy thấp hơn những nước phát triển Tây Âu, Nhật Bản, nhưng cũng ko nhỏ. Bởi lẽ, số quốc gia và qui mô dân số của nhóm nước này là rất to với mức 5266triệu dân, so với 1211 triệu dân của những nước phát triển, gấp trên 4,3 lần (7). Rõ ràng nhu cầu sản phẩm mới của những nước ĐPT là điều kiện thuận lợi cho những đơn vị khởi xướng của Mỹ trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường nhóm nước này, trước hết là một loạt quốc gia và lãnh thổ công nghiệp mới (NICs) như Mêhico, Brazil, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong, Đài Mortgage, Israel, Iran, Người nào Cập, Cùng hoà Nam Phi…

Tương tự, thị trường mục tiêu chủ yếu trong pha này, theo V.H. Kirpalani, là nhóm nước phát triển và bước đầu gồm những những nước đang phát triển (phần to là nhóm nước NICs). Do chú trọng mở rộng thị trường cả nhóm nước phát triển và ĐPT cho nên xuất khẩu của những đơn vị Mỹ tăng nhanh và đạt mức cao nhất ở pha này.

4. Pha 3: Bắt chước trên toàn toàn cầu (World-wide Immitaion)

a. Bắt chước sản phẩm mới trên toàn cầu

Trên thực tế, nếu việc khởi đầu sản xuất sản phẩm mới đã diễn ra từ pha trước ở những nước phát triển khác (Tây Âu và Nhật Bản), thì tới pha này lại được tiếp tục mở rộng ở những nước ĐPT trên phạm vi toàn cầu. Theo thời kì, những hãng to ở những nước ĐPT (trước tiên là những nước NICs) cũng mang khả năng về vốn và kỹ thuật nên đã tiếp thu được kinh nghiệm để khởi đầu sản xuất sản phẩm mới ở nước mình nhằm nhu được lợi nhuận cao. Tiến trình sản xuất này thường ứng dụng hình thức sao chép là chủ yếu vì mang sản phẩm nhanh nhất, thứ tới là liên doanh và cấp giấy phép.
Tương tự, đây là bước xuất khẩu kỹ thuật thứ 2 từ Mỹ sang những nước đang phát triển. Trong lúc những hãng thuộc nhóm nước ĐPTbắt chước sản phẩm mới để tiêu thụ nội địa thì những hãng thuộc nhóm nước phát triển Tây Âu và Nhật Bản do đi trước nên ko tiêu chí thụ ở nước mình còn xuất khẩu sang những nước ĐPT và khó khăn với những đơn vị khởi xướng Mỹ.

b. Xuất khẩu của Mỹ giảm mạnh và bước vào pha suy thoái

Sau lúc tăng trưởng và đạt mức cao nhất ở pha 2, xuất khẩu của những đơn vị Mỹ khởi đầu giảm rõ rệt lúc bước vao pha này. Tuy mang những nỗ lực về hoạt động quảng cáo quốc tế và phân phối nhưng xu hướng xuất khẩu giảm ngày càng mạnh. V.H. Kirpalani cũng chỉ rõ, đây là pha suy thoái trong xuất khẩu của những đơn vị Mỹ.

Xuất khẩu của Mỹ giảm mạnh là vì:

– Nhiều hãng của những nước phát triển khác đẩy mạnh sản xuất và bán ra ở ngay nước họ nhằm thu lợi nhuận cao. Do vậy, lượng nhập khẩu của những nước phát triển khác giảm đáng kể. Mặt khác, những hãng này còn tranh thủ xuất khẩu sang nhiều nước ĐPT và khó khăn homosexual gắt với những đơn vị Mỹ.

– Nhiều hãng khác ở những nước ĐPT cũng khởi đầu đổi mới sản phẩm, chủ yếu theo hình thức bắt chước nên cũng tăng nhanh trên thị trường, trước tiên ở ngay nước họ. Tiến trình này tất nhiên cũng làm cho xuất khẩu của Mỹ giảm nhanh hơn nữa. Đối với những đơn vị Mỹ, lợi nhuẫn rất quyến rũ trong suốt thời kì từ pha 0 tới pha 2 đã qua rồi. Điều đó sẽ khiến cho họ sớm thu hẹp và từ bỏ sản xuất để tìm nhu cầu sản phẩm mới khác.

c. Giá bán sản xuất tăng

Những diễn biến trên cho thấy, thị trường của những đơn vị Mỹ (gắn liền với mức giá thành thấp) đã giảm mạnh. Cùng với xu hướng đó, qui mô sản xuất bị thu hẹp nhiều, máy móc thiết bị đã cũ lại ko được khai thác hết công suất cho nên giá thành sản phẩm cũng cao hơn trước.

Thị trường của những nước phát triển khác tăng lên, đặc thù là thị trường của những nước ĐPT. Nhìn chung, những lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ của hàng loạt nước này thường bị hạn chế hơn so với Mỹ (về kỹ thuật, kĩ năng quản lý). Do đó giá thành sản phẩm cũng mang xu hướng tăng rõ rệt. Theo giám định của V.H. Kirpalani, sự tham gia sản xuất của những nước ĐPT là nguyên nhân chính làm cho giá thành bình quân trên toàn cầu tăng lên.

5. Pha 4: Đổi mới ngược chiều (Reversal Innovation)

a. Mỹ ko còn xuất khẩu nữa

Sự kết thúc vai trò của những đơn vị Mỹ trong xuất khẩu sản phẩm mới ở pha này là một thế tất vì thực tế đã được thai nghén từ quá trình trước đó như đã phân tích trên. Để hệ thống lại rõ hơn, cần nhấn mạnh những yếu tố vượt trội sau:

– Nhu cầu nhập khẩu giảm mạnh của nhóm nước phát triển do cung tăng nhanh từ những hãng sản xuất của họ. Với tiềm lực hiện mang về nhiều mặt, những hãng của nhóm nước phát triển mang đủ sức khó khăn với đơn vị xuất khẩu Mỹ ko chỉ ở thị trường nước mình mà còn ở những nước ĐPT, thậm chí ngay ở thị trường Mỹ. Theo phân tích của V. Terpstra và P. Kotler, những đơn vị Mỹ cũng thấy rõ điều này ngay từ pha 3, lúc những hãng Châu Âu xuất khẩu sản phẩm mới sang thị trường nhiều nước ở Châu Mỹ La tinh.

– Nhu cầu nhập khẩu sản phẩm mới từ Mỹ của nhóm nước ĐPT sắp như ko còn nữa. Bởi lẽ lượng sản xuất của những hãng ở đây tăng mạnh tới mức ko chỉ đủ đáp ứng nhu cầu nước mình mà còn xuất khẩu theo 3 hướng: nội bộ nhóm nước ĐPT, những nước phát triển khác và cả Mỹ. Mặt khác, nhóm nước phát triển (trừ Mỹ) vẫn tiếp tục xu hướng xuất khẩu sản phẩm mới vào nhiều nước ĐPT. Tương tự khó khăn giữa những nước phát triển và ĐPT cũng diễn ra khốc liệt.

– Chiến lược chủ động của những đơn vị Mỹ là cần từ bỏ sớm sản phẩm này và chuyển sang sản phẩm mới khác nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Đó là từ tưởng chủ đạo của họ trong chiến lược kinh doanh quốc tế do mang lợi thế về kỹ thuật, tài chính và quản lý.

b. Nhập khẩu của Mỹ theo hướng đổi mới ngược chiều

Nét bao trùm ở pha này là đổi mới ngược chiều, đồng thời cũng là biểu hiện của chiến lược chủ động nói trên. Mỹ nhập khẩu trở lại sản phẩm mới trước đây là điều thế tất bởi vì, thứ nhất, hầu hết tầng lớp bình dân (chiếm phần to dân số Mỹ) do khả năng trả tiền mang hạn nên vẫn mang nhu cầu sản phẩm mới với mức tiêu thụ khá to, thứ 2, những đơn vị to của Mỹ đã chủ động chuyển sang kinh doanh sản phẩm mới khác nên lượng cung giảm mạnh. Khoảng trống này phải được khắc phục bằng con đường nhập khẩu. Đó là một phần của lý thuyết thương nghiệp quốc tế trên cơ sở vật chất lợi thế so sánh trên thị trường toàn cầu.

Trên thực tế, trong những năm 1980, theo V.H. Kirpalani, những nước ĐPT thường xuyên xuất khẩu hàng điện tử vào thị trường Mỹ, trung bình 7-10 tỷ USD mỗi năm. Nước xuất khẩu to vào Mỹ là China, trong đó trên 90% là loại sản phẩm mang kiểu dáng và kỹ thuật do bắt chước sản phẩm Mỹ. Những sản phẩm khác như hàng dệt might, máy vi tính tư nhân… được xuất khẩu vào Mỹ cũng tương tự tương tự, đều được tiêu chuẩn hóa theo kỹ thuật Mỹ.

2.8/5 - (12 bình chọn)

Bình luận