Điều kiện trong nước và triển vọng kinh tế Việt Nam

Trong giai đoạn cuối của nhiệm kỳ 2011-2015, nền kinh tế đã dần đi vào phát triển ổn định, tăng trưởng cao hơn, sau một thời kì tốc độ tăng trưởng sút giảm, do những hạn chế yếu kém vốn với của nền kinh tế cùng tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra từ năm 2008. Từ năm 2014, Việt Nam đã ổn định được kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát hiệu quả, phần đông những ngành kinh tế đều phục hồi khả quan, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 6,68%, mức cao nhất trong vòng 8 năm trước đó; năm 2016 đạt 6,21%.và năm 2017 đạt 6,81%. Trên hạ tầng đó, kinh tế Việt Nam tập trung, hướng vào:

Với khẳng định “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và Nhà nước tập trung cao cho việc “hoàn thiện thiết chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên hạ tầng tôn trọng những quy luật thị trường…” dự đoán sẽ tạo điều kiện cho việc huy động tối đa, với hiệu quả những nguồn lực của quốc gia cho phát triển quốc gia. Việc vận hành nền kinh tế đầy đủ, đồng bộ theo những quy luật của thị trường đặt ra và đòi hỏi chính phủ phải thiết lập và ban hành hàng loạt chính sách kinh tế của Nhà nước liên quan tới sở hữu, tới những thành phần kinh tế, những loại thị trường (giá cả, quan hệ cung cầu và điều tiết những nguồn lực theo cơ chế thị trường), đảm bảo tính khó khăn và sáng tỏ, đồng đẳng trong vận hành nền kinh tế.

Trong định hướng phát triển quốc gia tới năm 2025, 2035 Việt Nam tiếp tục chú trọng đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô phỏng tăng trưởng, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, phát triển vững bền.Trong bối cảnh nêu trên, về trung hạn, tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự đoán ở mức vừa phải và trạng thái ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tiếp tục được củng cố. Công nghiệp, nhà sản xuất tiếp tục được quan tâm và ngày càng phát triển. Công nghiệp phụ trợ sẽ từng bước được định hình và phát triển theo hướng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với những thành viên ký FTA với Việt Nam.

Cùng với ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế mạnh cả chiều rộng lẫn bề sâu. Trong năm 2015, Việt Nam đã ký FTA với Hàn Quốc và với Liên minh Thương chính Belarus-Kazakhstan và Nga; ký kết Hiệp nghị đối tác toàn diện-tiến bộ Châu Á- Thái Bình Dương (CPTPP-3/2018) mặc dù tác động tới Việt Nam ko mạnh bằng so với Hiệp nghị TPP ban sơ nhưng với thị trường trên 500 triệu dân, với tỷ trọng GDP chiếm 14% GDP toàn cầu cũng sẽ tạo thời cơ cho những doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu đặc trưng với những sản phẩm dệt could, giầy dép.

Trong 5 năm tới, nước ta sẽ thực hiện đầy đủ những cam kết trong cùng đồng ASEAN và WTO, tham gia những hiệp nghị thương nghiệp tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Cơ cấu kinh tế sẽ chuyển hướng mạnh sang phát triển công nghiệp và nhà sản xuất. Cơ cấu kinh tế lãnh thổ sẽ với chuyển biến to theo hướng: tiếp tục đầu tư phát triển vào những vùng trọng tâm để những vùng này là những lãnh thổ đầu tàu và bộ khung tăng trưởng quốc gia. Hình thành hệ thống đa cực, những lãnh thổ đặc trưng, những khu kinh tế ven biển, những trung tâm thị thành làm hạt nhân đột phá trên những vùng. Xúc tiến phát triển theo những dải, hành lang kinh tế. Khai thác tiềm năng thế mạnh trên những vùng to để mỗi vùng với những đóng góp nhất định vào tăng trưởng và phát triển KT-XH quốc gia và từng bước khắc phục chênh lệch vùng và chênh lệch lãnh thổ ở mỗi địa phương.

Mang thể khẳng định rằng thành công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm 2016 và 2017 (6,81%) là nhờ quyết tâm cao của chính phủ trong chỉ đạo, quản lý. Với phương châm xây dựng chính phủ “liêm chính”, “kiến tạo”.. chính phủ đã khá quyết liệt và quyết tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp. Những bộ, ngành đã cắt giảm 30-50% những thủ tục hành chính, tinh giản bộ máy, thuần tuý hóa trật tự, thủ tục, giảm giá thành, giảm thời kì.. đã , đang và sẽ tạo động lực to cho giới doanh nghiệp, người dân huy động tối đa nguồn lực cho phát triển.

đẩy mạnh cổ phần hóa, đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.

Mang thể khẳng định, trong thời kỳ đổi mới, mở cửa của Việt Nam, nhận thức về vai trò, vị thế, định hướng phát triển của kinh tế tư nhân, doanh nghiệp tư nhân ngày được đề cao. Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, quyền tài sản, quyền tự do, đồng đẳng trong kinh doanh ngày được bổ sung và hoàn thiện. Phương thức quản lý nhà nước với kinh tế tư nhân, DNTN được đổi mới, tư nhân được làm những gì mà “pháp luật ko cấm” .. đã tạo điều kiện kinh tế quốc gia phát triển khá nhanh. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh” kinh tế tư nhân là động lực quan yếu của nền kinh tế”[79], tiếp tới Hội nghị trung ương 5 khóa XII đưa ra mục tiêu ” Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, vững bền, thực sự trở thành một động lực quan yếu của nền kinh tế” [80] với phương châm tạo điều kiện để những doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đồng đẳng với những nguồn lực phát triển, hoàn thiên cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển kinh tế tư nhân ở hầu hết những ngành kinh tế, khuyến khích hình thành những tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu, tư nhân góp vốn vào những tập đoàn kinh tế nhà nước.

Với những điều kiện đó, trong giai đoạn mới thành phần kinh tế tư nhân, doanh nghiệp tư nhân sẽ với bước phát triển quan yếu, tạo đột phá cho nền kinh tế.

Sau giai đoạn tăng trưởng nhanh từ 2005-2010 với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 9%/ năm và tăng trưởng nhanh hơn và mạnh của thời kỳ 2011-2015 với tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm và đặc trưng năm 2013 tăng trưởng 13,2%, năm 2014 trên 14% đã tạo đà cho kinh tế thành thị trấn tăng trưởng với tính chất đột phá vào giai đoạn 2020-2025. Với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật được phát triển, hoàn thiện, hiện đại được đưa vào sử dụng: Sân bay Quốc tế Cát Bi (2016), Cầu Đình Vũ-Cát Hải(2017), Cảng Quốc tế Lạch Thị xã(2018), đường cao tốc Hạ Lengthy-Hải Phòng(2018) sẽ tạo điều kiện cho những doanh nghiệp, những dự án to của Vingroup, Sungroup, LG.. những doanh nghiệp trong KCN, KKT… đi vào hoạt động sẽ tạo tăng trưởng công nghiệp đạt trên 20%, xuất khẩu trên 20%, thu ngân sách sẽ tăng trên 25%.

Mang thể khẳng định những yếu tố trong nước và quốc tế nêu trên dự đoán sẽ tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam và kinh tế Hải Phòng vào thời kỳ mới cho sự phát triển “đựng cánh”, “đột phá”, nhưng cũng đặt ra và đòi hỏi chính phủ Trung ương cũng như chính quyền thành thị trấn Hải Phòng phải ko ngừng đổi mới, tập trung cao cho việc hoàn thiện những cơ chế, chính sách kinh tế của Nhà nước đặc trưng những chính sách tương trợ doanh nghiệp tăng năng lực khó khăn.

Rate this post

Bình luận