Phân tích thực trạng chính sách kinh tế của Nhà nước tác động hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng nâng cao năng lực cạnh tranh

Hiến Pháp năm 2013 quy định cụ thể: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cùng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” [56]. Chính phủ tổ chức và triển khai thực hiện những quyết định, Hiến pháp, Luật, Quyết nghị của QH thông qua việc ban hành những văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định, quyết định, chỉ thị mang nghĩa chính phủ thực hiện quyền hành pháp.

Tương tự, Chính phủ giữ vai trò quyết định trong nhiệm vụ xây dựng, ban hành hệ thống thiết chế; hướng dẫn và rà soát việc thực hiện hệ thống thiết chế đó. Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, Chính phủ trung ương mang thể sử dụng nhiều phương tiện chính sách khác nhau như: phê duyệt chiến lược, quy hoạch, những chương trình phát triển… cũng như thông qua việc ban hành những chính sách trên nhiều ngành của kinh tế xã hội: Đất đai, tài chính – tiền tệ, giá cả, thuế, đầu tư, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, kinh tế đối ngoại, KHCN, việc làm để triển khai hoạt động của Chính phủ.

Giai đoạn từ 2005-2017 là thời kỳ Chính phủ quan tâm và Ban hành khá nhiều chính sách cho phát triển kinh tế thông qua hệ thống văn bản pháp luật: Luật, Nghị định, chương trình phát triển) Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Thuế, Thương chính, Luật tương trợ DNNVV và những văn bản dưới luật: những Nghị định của Chính phủ và những Thông tư của những Bộ, ngành trung ương mang tác động trực tiếp tới việc phát triển doanh nghiệp cũng như tăng năng lực khó khăn của doanh nghiệp, ví dụ: luật Đất đai 2017 (Số 83/2015/QH13-25/6/2015), Điều 45. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định: “Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh” [51] và đặc trưng trong số 212 điều của luật đã mang tới 40 điều quy định “Chính phủ mang quy định cụ thể, chi tiết việc thi hành” tức là chính phủ phải ban hành những chính sách cụ thể thông qua những Nghị định của chính phủ.

Nhờ việc ban hành kịp thời những chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam đã mang nhiều tiến bộ, được cải thiện rõ rệt và giảm được sắp 30 bậc trong xếp hạng quốc tế giai đoạn 2013-2017 (từ xếp thứ trên 90 năm 2013 xuống vị trí 68 năm 2017); số lượng DN trên khu vực cả nước phát triển khá mạnh, tới hết 2017 cả nước đã mang trên 700.000 DN. Nhiều doanh nghiệp mang quy mô kinh doanh tăng khá, khả năng khó khăn quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh và kim ngạch xuất khẩu của cả nước 2017 đã đạt trên 400 tỷ USD.

Tuy nhiên, những chính sách kinh tế của Nhà nước (Luật, Nghị định, thông tư, quyết nghị…) vẫn còn những bất cập: chậm, thiếu kịp thời (nhất là những Nghị định, Thông tư chậm nhiều so với thời khắc Luật mang hiệu lực), những văn bản vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chồng chéo, khó thực hiện, thiếu tính kịp thời, nhiều chính sách chậm được triển khai ở các ngành; nhiều cơ chế, chính sách vẫn mang tính phân tán, phân chia theo bộ, ngành và còn mang nặng tính xin cho; nguồn lực đáp ứng những yêu cầu của chính sách vừa thiếu, vừa chậm đã gây ko ít khó khăn cho DN lúc tiếp cận chính sách và chưa thực sự giúp DN tăng NLCT.

Nhận thức rõ những doanh nghiệp trên khu vực thành xã Hải Phòng vừa được lợi lợi từ những chính sách tương trợ của Trung ương vừa được lợi lợi từ những chính sách đặc thù riêng do chính quyền thành xã ban hành.

Theo quy định của Hiến Pháp (Điều 112- Hiến Pháp năm 2013) những vấn đề liên quan tới nhiệm vụ, quyền hạn của Chính quyền địa phương. Cụ thể:

Tương tự, chính quyền địa phương (cấp tỉnh) được ban hành một số chính sách để:

Để xúc tiến phát triển doanh nghiệp, tăng năng lực khó khăn cho doanh nghiệp, trong giai đoạn 2005-2017, thành xã đã ban hành khá nhiều cơ chế, chính sách để triển khai những chính sách của Nhà nước Trung ương với doanh nghiệp đồng thời cũng ban hành khá nhiều cơ chế, chính sách đặc thù của Hải Phòng tương trợ trực tiếp cho doanh nghiệp tăng năng lực khó khăn. Theo báo cáo của UBND thành xã Hải Phòng, chỉ riêng năm 2016, thành xã ban hành 81 văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới cơ chế, chính sách tương trợ doanh nghiệp, trong đó mang nhiều văn bản về tương trợ DN và DN khởi nghiệp.

Những chính sách đã cụ thể hóa những quy định liên quan của Chính phủ, góp phần tạo lập hành lang pháp lý quan yếu đối với sự phát triển của DN trên khu vực và tương trợ những DN phát triển. Tuy nhiên, trong phạm vi Luận án, tác giả chỉ kể tới những chính sách cụ thể tương trợ DN tăng NLCT trên những ngành chính sau:

Theo tài liệu tổng hợp, nghiên cứu của Phòng Quản lý doanh nghiệp (Con số số 29/BC-Sở KHĐT, ngày 20/2/2017-Con số Đoàn Đại biểu Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về tương trợ sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giai đoạn 2010-2016) và khảo sát của tác giả với những doanh nghiệp và những sở, ngành về những chính sách tương trợ doanh nghiệp trên khu vực Hải Phòng từ năm 2000- 2017, theo 5 nhóm chính sách nêu trên được phân bố tỷ lệ như sau:

Biểu thống kê cho thấy số lượng văn bản chính sách mang tính tổng hợp được ban hành chỉ chiếm tỷ trọng 30% /trên tổng số văn bản ban hành, nhưng mang vai trò quan yếu trong những chính sách tương trợ của thành xã. Những chính sách chung mang tính chất định hướng, khung cho tất cả những loại hình doanh nghiệp như: Những quy hoạch phát triển KTXH, quy hoạch ko gian xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch nguồn nhân lực, quy hoạch ngành cũng như chính sách ưu đãi đầu tư cho những doanh nghiệp FDI (Quyết định 369/QĐ- UBND/2003), ưu đãi với những doanh nghiệp đầu tư trong nước (Quyết định 1769/QĐ-UBND/2004), Ưu đãi với những doanh nghiệp đầu tư vào khu, cụm công nghiệp. Số văn bản chính sách cụ thể tập trung cao vào tương trợ đất đai, mặt bằng cho những doanh nghiệp lúc thành lập mới và mở rộng những dự án đầu tư phát triển (>45%), Chính sách tương trợ về khoa học khoa học (23%), tương trợ tiếp cận thị trường (8,5%).

Rate this post

Bình luận