Quy mô sản xuất và sự sẵn sàng về công nghệ của Việt Nam tác động đến cung xuất khẩu

Quy mô sản xuất

+ Kết quả mô phỏng hồi quy cho thấy, hệ số ước tính của biến LnGDPijt hay là tích số giữa GDP của Việt Nam với GDP của những nước thành viên EU mang dấu dương và mang ý nghĩa thống kê 0,01. Lúc GDP của Việt Nam và GDP của những nước thành viên EU tăng lên 1% thì xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU cũng tăng lên 0,267%, với những yếu tố khác ko đổi. GDP của Việt Nam tăng lên hay chính là quy mô nền kinh tế của Việt Nam tăng lên thì Việt Nam sẽ mang nhiều điều kiện đe đầu tư cho những nguồn lực sản xuất từ đó tăng chất lượng những sản phẩm chế biến và tăng năng lực cạnh trạnh với tất cả các nước khác trên toàn cầu. Điều này cho thấy, GDP của Việt Nam là yếu tố quan yếu tác động tới xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU.

Trong giai đoạn 2005 – 2016, GDP của Việt Nam đã tăng nhanh dần qua những năm, từ mức 57,6 tỷ USD năm 2005 lên 201,3 tỷ USD năm 2016 (Phụ lục 6). Điều đó đồng nghĩa với lượng hàng hóa tạo ra ngày càng nhiều, dẫn tới khả năng xuất khẩu của Việt Nam càng to, trong đó mang xuất khẩu nhóm hàng chế biến. Do vậy, GDP của Việt Nam mang tác động thuận chiều với cung xuất khẩu Việt Nam về hàng chế biến.

+ Biến LnGDPCijt mang hệ số ước tính mang dấu dương với mức ý nghĩa thống kê 0,01, tức là tích số giữa GDP bình quân đầu người của Việt Nam và GDP bình quân đầu người của EU mang tác động tích cực tới xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang EU. Lúc GDP bình quân đầu người của Việt Nam và GDP bình quân đầu người của những nước thành viên EU tăng lên 1% sẽ làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường này tăng lên 0,315%, với điều kiện những yếu tố khác ko đổi. Đây cũng là một biến rất quan yếu trong mô phỏng. Xét về GDP bình quân đầu người của Việt Nam, sự dồi dào về vốn đầu tư đầu tư cho những ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn tới mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường hoạt động xuất khẩu, và trị giá xuất khẩu sang EU cũng tăng lên. Kết quả này hoàn toàn thích hợp về lý thuyết và những nghiên cứu thực tiễn trước đây.
GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 699,6 USD/người năm 2005 lên 2171 USD/người năm 2016 (Phụ lục 7). Điều này the hiện sự dồi dào của tư bản.

Quan hệ thương nghiệp giữa Việt Nam và EU ít khó khăn, mang tính bổ sung cho nhau, trong lúc đó hàng chế biến là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Do đó, GDP bình quân đầu người của Việt Nam mang tác động cùng chiều với cung xuất khẩu Việt Nam về hàng chế biến.

– Sự sẵn sàng về khoa học

Yếu tố khoa học mang quan hệ tương đối chặt chẽ với hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Nhờ mang khoa học, những doanh nghiệp mang khả năng chuyên môn hoá cao hơn, quy mô sản xuất tăng lên và đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô. Từ đó, doanh nghiệp mới mang thể khó khăn được trên thị trường quốc tế.

Hàng chế biến là nhóm hàng đòi hỏi đầu tư nhiều về khoa học trong hoạt động sản xuất. Doanh nghiệp muốn tăng trị giá sản phẩm đ tăng năng lực khó khăn và xuất khẩu ra thị trường to EU thì phải dựa trên hạ tầng cải tiến khoa học truyền thống, nhập khẩu khoa học mới, hiện đại. Những chuyên gia quốc tế về ngành nghề khoa học-kỹ thuật giám định rằng Việt Nam tiến chậm hơn Thái Lan 10-12 năm, với Singapore và Đài Mortgage thì lạc hậu tới 40-60 năm. Sự chậm trễ này một phần do mang nguyên nhân về lịch sử. Tuy vậy, Việt Nam cần bước nhảy vọt để sánh kịp với những nước trong khu vực Đông Nam Á. Theo giám định của một chuyên gia khác,Việt Nam mang khoảng 95% doanh nghiệp là vừa và nhỏ, rất nhỏ nên việc tập trung đầu tư cho khoa học còn nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hoạt động phi khoa học, 45% doanh nghiệp mang khoa học ở mức trung bình thấp, 8% là mang trình độ khoa học trung bình và khoảng 2% doanh nghiệp mang trình độ khoa học cao. Năm 2016, Phòng Thương nghiệp và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành khảo sát tại 10 nhóm ngành (7 ngành thuộc ngành nghề công nghiệp chế biến chế tạo), kết quả cho thấy những doanh nghiệp đang sử dụng khoa học mang tuổi đời trên 6 năm chiếm khoảng 60% . Phần to những khoa học này từ những nước đang phát tri n. Khoa học mang nguồn gốc từ những nước phát triển chỉ chiếm khoảng 1/3 và chủ yếu là những khoa học cũ.

Thông thường, sau khoảng 10 năm sẽ mang một khoa học mới ra đời thay thế khoa học cũ. Hiện nay, những máy móc thiết bị của nước ta sắp như mang khoảng cách rất xa về khoa học so với những nước trên toàn cầu nói chung và EU nói riêng, khoảng cách đó mang thể tới hàng chục năm. Một con số đáng lo ngại hơn nữa từ số liệu của Tổng cục thống kê, theo kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011 -2015 tỷ lệ đổi mới khoa học đưa ra là mỗi năm tăng trung bình 13% nhưng thực tế chỉ tăng 10,68%/năm. Điều này thể hiện một sự tụt hậu và sự lạc hậu về khoa học của Việt Nam so với tất cả các nước khác.

Theo Diễn đàn kinh tế toàn cầu (WEF), trong giai đoạn 2007-2016, mức độ sẵn sàng về khoa học của Việt Nam còn thấp, nhất là năm 2014 chỉ đứng ở vị trí thứ 102 toàn cầu. Khả năng tiếp nhận khoa học của những doanh nghiệp Việt Nam đã tụt xuống nhanh chóng từ vựng trí thứ 73 năm 2010 xuống vị trí thứ 79 năm 2012, vị trí 98 năm 2013. Năm 2015 và năm 2016, Việt Nam đã mang cải thiện về vị trí xếp hạng nhưng ko đáng ok ể (tăng lên bậc thứ 99 và 92 toàn cầu). Chỉ số về mức độ sẵn sàng khoa học của Việt Nam nhỏ hơn 4, trong lúc đó hầu hết những nước thành viên EU chỉ số này to hơn 4 (Phụ lục 8). Một số mục tiêu phản ánh mức độ sẵn sàng khoa học của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 như: Tính khả dụng của những khoa học mới nhất, hấp thụ khoa học cấp độ đơn vị, FDI và chuyển giao khoa học, tỷ lệ % tư nhân sử dụng Web,… được trình bày tại phụ lục 9. Thực trạng này cho thấy, khoa học của Việt Nam còn thua xa so với những nước EU.

Hiện nay, những ngành công nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn mang để phát tri ển kinh tế, sản xuất thô và gia công sản phẩm. Trong lúc đó, ngành nghề chế biến, chế tạo là ngành nghề trụ cột của ngành công nghiệp thì ít được chú trọng. Điều này dẫn tới ngành công nghiệp của Việt Nam còn yếu, chưa mang những bước tiến so với những nước, và cũng chưa tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi trị giá toàn cầu. Hơn nữa, để phát tri ển ngành công nghiệp chế biến chế tạo thì chủ yếu phải dựa vào doanh nghiệp tư nhân. Nhận thấy rõ được yếu tố sống còn trong sản xuất của doanh nghiệp tư nhân là đổi mới khoa học, tuy nhiên vốn đầu tư đầu tư cho việc đổi mới khoa học, sắm sắm thiết bị tốt cho doanh nghiệp còn nhiều hạn hẹp. Do vậy, những doanh nghiệp buộc phải nhập khẩu những máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu để phục vụ cho gia công sản phẩm.

Sở hữu thể thấy rằng, những số liệu minh chứng trên đây đã phần nào phản ánh được thực trạng về trình độ khoa học và mức độ sẵn sàng về khoa học của những doanh nghiệp trong những ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam. Những doanh nghiệp cần yếu khoa học tốt để tăng năng suất lao động và tạo ra được những sản phẩm xuất khẩu mang hàm lượng chế biến cao, từ đó mới mang thể đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường to EU.

Rate this post

Bình luận