Chuẩn mực kiểm toán số 570

Chuẩn mực kiểm toán số 570: Hoạt động liên tục

(Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC

ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính)

I/ QUY ĐỊNH CHUNG

Phạm vi vận dụng 

01. Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán (sau đây gọi là “kiểm toán viên”) trong việc xét đoán giả thiết hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử dụng để lập và trình bày BCTC được kiểm toán.

Giả thiết hoạt động liên tục

02. Theo giả thiết hoạt động liên tục, một đơn vị được xem là hoạt động liên tục trong tương lai với thể dự đoán được. Con số tài chính cho mục đích chung được lập trên cơ sở vật chất hoạt động liên tục, trừ lúc Ban Giám đốc với ý định hoặc do nguyên nhân khác buộc phải ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị. Con số tài chính cho mục đích đặc trưng với thể được lập theo phạm vi hoặc ko theo phạm vi về lập và trình bày BCTC với quy định về cơ sở vật chất hoạt động liên tục (ví dụ, cơ sở vật chất hoạt động liên tục với thể ko thích hợp với BCTC được lập cho mục đích thuế). Lúc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục để lập và trình bày BCTC là thích hợp, tài sản và nợ phải trả được ghi nhận dựa trên cơ sở vật chất là đơn vị với thể thực hiện được trị giá tài sản và trả tiền được những khoản nợ phải trả của mình trong điều kiện kinh doanh thường nhật (xem hướng dẫn tại đoạn A1 Chuẩn mực này).

Trách nhiệm trong việc giám định khả năng hoạt động liên tục của đơn vị

03. Phạm vi về lập và trình bày BCTC với thể quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện giám định cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị và những chuẩn mực liên quan cần xem xét và những thông tin thuyết minh phải trình bày liên quan tới hoạt động liên tục. Ví dụ, đoạn 15 Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (năm 2003) yêu cầu Ban Giám đốc phải giám định khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Pháp luật và những quy định cũng với thể đưa ra những yêu cầu cụ thể về trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc giám định khả năng hoạt động liên tục của đơn vị và những thuyết minh BCTC với liên quan.

04. Phạm vi về lập và trình bày BCTC với thể ko quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện giám định cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Tuy nhiên, do giả thiết hoạt động liên tục là một nguyên tắc cơ bản trong việc lập và trình bày BCTC (như quy định tại đoạn 02 Chuẩn mực này), việc lập và trình bày BCTC yêu cầu Ban Giám đốc phải giám định khả năng hoạt động liên tục của đơn vị ngay cả lúc phạm vi về lập và trình bày BCTC ko quy định rõ về việc này.

05. Nhận định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị liên quan tới việc thực hiện xét đoán tại một thời khắc nhất định về kết quả ko vững chắc trong tương lai của những sự kiện hoặc điều kiện. Những yếu tố liên quan tới xét đoán đó bao gồm:

–    Sự kiện, điều kiện hoặc kết quả diễn ra tại một thời khắc càng xa trong tương lai thì mức độ ko vững chắc về kết quả của sự kiện hay điều kiện đó càng tăng lên đáng kể. Vì vậy, hầu hết những phạm vi về lập và trình bày BCTC với quy định về việc giám định của Ban Giám đốc đều chỉ rõ giai đoạn mà Ban Giám đốc phải xem xét tất cả những thông tin sẵn với trong giai đoạn đó;

–    Quy mô và tính chất phức tạp, đặc điểm và điều kiện hoạt động của đơn vị cũng như mức độ đơn vị bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài đều với thể tác động tới xét đoán liên quan tới kết quả của những sự kiện hoặc điều kiện;

–    Bất kỳ xét đoán nào về tương lai đều dựa trên những thông tin sẵn với tại thời khắc xét đoán. Những sự kiện phát sinh sau đó với thể đem lại những kết quả khác biệt với những xét đoán đã được coi là hợp lý tại thời khắc xét đoán.

Trách nhiệm của kiểm toán viên

06. Kiểm toán viên với trách nhiệm thu thập đầy đủ bằng cớ kiểm toán thích hợp về tính hợp lý của giả thiết hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử dụng lúc lập và trình bày BCTC và kết luận liệu còn với yếu tố ko vững chắc trọng yếu nào liên quan tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay ko. Kiểm toán viên vẫn với trách nhiệm này ngay cả lúc phạm vi về lập và trình bày BCTC được sử dụng để lập báo cáo ko quy định rõ về việc Ban Giám đốc phải thực hiện giám định cụ thể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị.

07. Tuy nhiên, như đã kể trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, khả năng phát hiện sơ sót trọng yếu của kiểm toán viên với những hạn chế vốn với mà tác động tiềm tàng của những hạn chế này là to hơn đối với những sự kiện hoặc điều kiện trong tương lai với thể dẫn tới khả năng đơn vị ko thể hoạt động liên tục. Kiểm toán viên ko thể dự đoán được những sự kiện hoặc điều kiện này. Do đó, lúc báo cáo kiểm toán ko kể tới tính ko vững chắc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán, điều đó ko với tức là khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán đã được đảm bảo.

08. Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán phải tuân thủ những quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình kiểm toán BCTC.

Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các đối tác sử dụng kết quả kiểm toán phải với những hiểu biết cần thiết về những quy định và hướng dẫn trong Chuẩn mực này để thực hiện trách nhiệm của mình và để phối hợp công việc với kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khắc phục những mối quan hệ trong quá trình xét đoán về hoạt động liên tục lúc kiểm toán BCTC.

Mục tiêu

09. Mục tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là:

(a)         Thu thập đầy đủ bằng cớ kiểm toán thích hợp về tính hợp lý của giả thiết hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử dụng lúc lập và trình bày BCTC;

(b)        Dựa trên những bằng cớ kiểm toán đã thu thập được, kết luận về việc liệu với còn yếu tố ko vững chắc trọng yếu nào liên quan tới những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán;

(c)         Xác định tác động tới báo cáo kiểm toán.

II/ NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Yêu cầu

Thủ tục giám định rủi ro và những hoạt động liên quan

10.       Lúc thực hiện thủ tục giám định rủi ro theo quy định tại đoạn 05 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, kiểm toán viên phải xem xét liệu còn với những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán hay ko. Đồng thời, kiểm toán viên phải xác định xem Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã giám định sơ bộ về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay chưa, và (xem hướng dẫn tại đoạn A2 – A5 Chuẩn mực này):

(a)        Nếu Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã giám định, kiểm toán viên phải thảo luận với Ban Giám đốc đơn vị về giám định đó và xác định xem Ban Giám đốc đơn vị với nhận thấy những sự kiện hoặc điều kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay ko, và nếu với phải xem xét kế hoạch của Ban Giám đốc đơn vị đối với vấn đề này; hoặc

(b)        Nếu Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán chưa giám định, kiểm toán viên phải thảo luận với Ban Giám đốc đơn vị về cơ sở vật chất của dự kiến sử dụng giả thiết hoạt động liên tục và phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị liệu với những sự kiện hoặc điều kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay ko.

11.       Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn cảnh giác với những bằng cớ kiểm toán về những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A6 Chuẩn mực này).

Xem xét những giám định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán

12.       Kiểm toán viên phải xem xét những giám định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị (xem hướng dẫn tại đoạn A7 – A9; A11 – A12 Chuẩn mực này).

13.       Lúc xem xét những giám định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, kiểm toán viên phải xem xét trong cùng giai đoạn mà Ban Giám đốc đơn vị đã sử dụng để giám định theo yêu cầu của phạm vi về lập và trình bày BCTC được vận dụng, hoặc theo pháp luật và những quy định – nếu pháp luật và những quy định yêu cầu một giai đoạn dài hơn. Nếu giám định của Ban Giám đốc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được thực hiện cho giai đoạn ít hơn 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán như quy định tại đoạn 05(a) Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560, kiểm toán viên phải yêu cầu Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán kéo dài giai đoạn giám định tới ít nhất là 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán (xem hướng dẫn tại đoạn A10 – A12 Chuẩn mực này).

14.       Lúc xem xét những giám định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét liệu những giám định của Ban Giám đốc đã bao gồm tất cả những thông tin liên quan sẵn với mà kiểm toán viên biết được từ kết quả của cuộc kiểm toán hay chưa.

Giai đoạn sau lúc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán giám định

15.       Kiểm toán viên phải phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những hiểu biết của Ban Giám đốc đối với những sự kiện hoặc điều kiện phát sinh sau giai đoạn đã được Ban Giám đốc giám định mà những sự kiện hoặc điều kiện này với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A13 – A14 Chuẩn mực này).

Thủ tục kiểm toán bổ sung lúc kiểm toán viên nhận thấy những sự kiện hoặc điều kiện dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị

16.       Lúc nhận thấy những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên phải thực hiện những thủ tục kiểm toán bổ sung để thu thập đầy đủ bằng cớ kiểm toán thích hợp nhằm xác định xem với hay ko với yếu tố ko vững chắc trọng yếu, kể cả việc xem xét những yếu tố giảm nhẹ. Những thủ tục này phải bao gồm (xem hướng dẫn tại đoạn A15 Chuẩn mực này):

(a)        Yêu cầu Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán giám định về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, nếu Ban Giám đốc chưa thực hiện giám định trước đó;

(b)        Xem xét những kế hoạch của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những hành động trong tương lai với liên quan tới giám định của Ban Giám đốc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, giám định khả năng cải thiện tình hình cũng như tính khả thi của những kế hoạch này (xem hướng dẫn tại đoạn A16 Chuẩn mực này);

(c)        Nếu đơn vị được kiểm toán đã lập kế hoạch dòng tiền và việc phân tích kế hoạch này là yếu tố quan yếu trong việc xem xét kết quả tương lai của những sự kiện hoặc điều kiện, lúc giám định những kế hoạch của Ban Giám đốc về những hành động trong tương lai, kiểm toán viên phải (xem hướng dẫn tại đoạn A17 – A18 Chuẩn mực này):

(i)          Nhận định độ tin cậy của dữ liệu cơ bản được tạo ra để lập kế hoạch dòng tiền;

(ii)       Xác định liệu với đủ bằng cớ củng cố cho những giả thiết tiêu dùng để lập kế hoạch dòng tiền hay ko.

(d)        Xem xét liệu còn với thông tin hay sự kiện bổ sung nào kể từ sau ngày Ban Giám đốc đưa ra giám định;

(e)        Yêu cầu Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi thích hợp) giải trình bằng văn bản về những kế hoạch hành động trong tương lai của họ và tính khả thi của những kế hoạch đó.

Kết luận kiểm toán và báo cáo kiểm toán

17.       Dựa vào những bằng cớ kiểm toán thu thập được, kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán của mình để kết luận liệu với yếu tố ko vững chắc trọng yếu liên quan tới những sự kiện hoặc điều kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị hay ko. Yếu tố ko vững chắc trọng yếu tồn tại lúc khả năng xảy ra cũng như tác động tiềm tàng của yếu tố đó to tới mức mà kiểm toán viên xét thấy cần phải trình bày rõ ràng về thực chất cũng như tác động của yếu tố đó để đảm bảo (xem hướng dẫn tại đoạn A19 Chuẩn mực này):

(a)        Con số tài chính được lập và trình bày trung thực và hợp lý, theo phạm vi về trình bày hợp lý; hoặc

(b)        Con số tài chính ko bị sai lệch, theo phạm vi về tuân thủ.

Việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là thích hợp nhưng với yếu tố ko vững chắc trọng yếu

18.       Trường hợp kiểm toán viên kết luận rằng việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là thích hợp nhưng với yếu tố ko vững chắc trọng yếu, kiểm toán viên phải xác định xem BCTC với đảm bảo những yêu cầu sau hay ko:

(a)        Trình bày đầy đủ những sự kiện hoặc điều kiện chủ yếu với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán và kế hoạch của Ban Giám đốc đối với những sự kiện hoặc điều kiện này;

(b)        Trình bày rõ rằng với yếu tố ko vững chắc trọng yếu liên quan tới sự kiện hoặc điều kiện đó với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán và do đó, đơn vị với thể sẽ ko thực hiện được trị giá tài sản và trả tiền những khoản nợ phải trả của mình trong điều kiện kinh doanh thường nhật (xem hướng dẫn tại đoạn A20 Chuẩn mực này).

19.       Nếu BCTC của đơn vị đã trình bày đầy đủ những nội dung quy định tại đoạn 18 Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải đưa ra báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” nhằm:

(a)        Nêu bật sự tồn tại của yếu tố ko vững chắc trọng yếu liên quan tới sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán;

(b)        Lưu ý người đọc tới thuyết minh trong BCTC trình bày những vấn đề được quy định tại đoạn 18 Chuẩn mực này (xem Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 706 và hướng dẫn tại đoạn A21 – A22 Chuẩn mực này).

20.       Nếu BCTC của đơn vị ko trình bày đầy đủ những nội dung quy định tại đoạn 18 Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến ngoại trừ hoặc ý kiến trái ngược thích hợp với từng trường hợp cụ thể theo quy định tại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705. Kiểm toán viên phải nêu rõ trong báo cáo kiểm toán về sự tồn tại của yếu tố ko vững chắc trọng yếu với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A23 – A24 Chuẩn mực này).

Việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là ko thích hợp

21.       Nếu BCTC được lập trên cơ sở vật chất hoạt động liên tục nhưng theo xét đoán của kiểm toán viên, việc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán sử dụng giả thiết này là ko thích hợp thì kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán trái ngược (xem hướng dẫn tại đoạn A25 – A26 Chuẩn mực này).

Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán ko thực hiện hoặc ko mở rộng giám định về khả năng hoạt động liên tục

22.       Nếu Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán ko thực hiện hoặc ko mở rộng giám định về khả năng hoạt động liên tục theo yêu cầu của kiểm toán viên thì kiểm toán viên phải cân nhắc tác động của vấn đề này đối với báo cáo kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A27 Chuẩn mực này).

Trao đổi với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán

23.       Trừ lúc toàn bộ thành viên Ban quản trị đều là thành viên Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán (theo đoạn 13 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 260), kiểm toán viên phải trao đổi với Ban quản trị đơn vị về những sự kiện hoặc điều kiện đã xác định là với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán. Việc trao đổi với Ban quản trị phải bao gồm những nội dung sau:

(a)        Liệu những sự kiện hoặc điều kiện đó với tạo thành yếu tố ko vững chắc trọng yếu hay ko;

(b)        Liệu việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục với thích hợp trong việc lập và trình bày BCTC hay ko;

(c)        Những thuyết minh với liên quan trong BCTC với đầy đủ hay ko.

Sự chậm trễ đáng kể trong việc phê duyệt BCTC

24.       Lúc với sự chậm trễ đáng kể của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán đối với việc phê duyệt BCTC sau ngày kết thúc kỳ kế toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu lý do của sự chậm trễ đó. Nếu kiểm toán viên tin rằng sự chậm trễ với thể do tác động của những sự kiện hoặc điều kiện liên quan tới việc giám định khả năng hoạt động liên tục của đơn vị thì kiểm toán viên phải thực hiện những thủ tục kiểm toán bổ sung cần thiết như đã quy định tại đoạn 16 Chuẩn mực này, cũng như xem xét tác động tới kết luận của kiểm toán viên về sự tồn tại của yếu tố ko vững chắc trọng yếu như quy định tại đoạn 17 Chuẩn mực này.

III/ HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG 

Lúc thực hiện Chuẩn mực này cần tham khảo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200.

Giả thiết hoạt động liên tục (hướng dẫn đoạn 02 Chuẩn mực này)

Lưu ý lúc kiểm toán những đơn vị trong ngành nghề công

A1.   Việc Ban Giám đốc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục cũng với thể thích hợp với những đơn vị trong ngành nghề công. Ví dụ, đoạn 38 – 41 Chuẩn mực quốc tế về kế toán công số 1 (IPSAS1) kể tới khả năng hoạt động liên tục của những đơn vị trong ngành nghề công. Rủi ro về khả năng hoạt động liên tục với thể phát sinh, nhưng ko giới hạn, trong trường hợp đơn vị công hoạt động trên cơ sở vật chất lợi nhuận, lúc những khoản tài trợ của Chính phủ với thể bị cắt giảm hoặc bị thu hồi, hoặc trong trường hợp tư nhân hóa. Những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị trong ngành nghề công với thể bao gồm trường hợp đơn vị thiếu nguồn tài trợ để tiếp tục hoạt động hoặc lúc với chính sách tác động tới những nhà sản xuất mà đơn vị sản xuất.

Thủ tục giám định rủi ro và những hoạt động với liên quan

Sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về giả thiết hoạt động liên tục (hướng dẫn đoạn 10 Chuẩn mực này)

A2.   Dưới đây là ví dụ về những sự kiện hoặc điều kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về giả thiết hoạt động liên tục của đơn vị. Danh sách này ko bao gồm tất cả những sự kiện với thể với trên thực tế và sự tồn tại của một hoặc một số sự kiện trong danh sách này cũng với thể ko phải là tín hiệu của yếu tố ko vững chắc trọng yếu.

Về tài chính

(1)         Đơn vị lâm vào tình trạng nợ phải trả to hơn tài sản hoặc nợ phải trả ngắn hạn to hơn tài sản lưu động;
(2)         Đơn vị với những khoản nợ dài hạn sắp tới hạn trả mà ko với khả năng được giãn nợ hoặc ko với khả năng trả tiền, hoặc đơn vị phụ thuộc quá nhiều vào những khoản vay ngắn hạn để tài trợ những tài sản dài hạn;
(3)         Tín hiệu về việc những chủ nợ ngừng hoặc thu hồi những tương trợ tài chính;
(4)         Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh bị âm thể hiện trên BCTC hay dự đoán trong tương lai;
(5)         Đơn vị với những chỉ số tài chính xấu hơn mức thường nhật;
(6)         Lỗ hoạt động kinh doanh to hoặc với sự suy giảm to về trị giá của những tài sản được tiêu dùng để tạo ra những luồng tiền;
(7)         Nợ tồn đọng hoặc ngừng trả tiền cổ tức;
(8)         Ko với khả năng trả tiền nợ lúc tới hạn;
(9)         Ko với khả năng tuân thủ những điều khoản của hợp đồng tín dụng;
(10)    Chuyển đổi từ những giao dịch tậu chịu sang tậu trả tiền ngay với những nhà sản xuất;
(11)    Ko với khả năng tìm kiếm những nguồn tài trợ cho việc phát triển những sản phẩm mới thiết yếu hoặc những dự án đầu tư thiết yếu;

Về hoạt động

(12)    Ban Giám đốc với ý định ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị;
(13)    Thiếu thành phần lãnh đạo cốt lõi mà ko được thay thế;
(14)    Mất một thị trường to, mất khách hàng quan yếu, mất quyền kinh doanh theo hình thức cấp phép, nhượng quyền thương nghiệp hoặc mất nhà sản xuất quan yếu;
(15)    Gặp những vấn đề khó khăn về lao động;
(16)    Thiếu hụt vật tư đầu vào chủ yếu;
(17)    Xuất hiện đối thủ khó khăn mới thành công hơn;
Những tín hiệu khác
(18)    Ko tuân thủ những quy định về góp vốn cũng như những quy định khác của pháp luật;
(19)    Đơn vị đang bị kiện và những vụ kiện này chưa được xử lý mà nếu đơn vị thua kiện với thể dẫn tới những khoản bồi thường ko với khả năng giải quyết được;
(20)    Thay đổi về pháp luật và những quy định hoặc chính sách của Nhà nước làm tác động bất lợi tới đơn vị;
(21)    Xảy ra những rủi ro, tổn thất mà ko được bảo hiểm hoặc bảo hiểm với trị giá thấp.

Tác động của những sự kiện hoặc điều kiện này với thể được giảm nhẹ bởi những yếu tố khác. Ví dụ, tác động của việc đơn vị ko với khả năng trả tiền những khoản nợ phải trả thông thường lúc tới hạn với thể được giảm nhẹ bằng việc Ban Giám đốc với kế hoạch duy trì luồng tiền đầy đủ nhờ việc vận dụng những phương pháp khác như thanh lý tài sản nhất định, điều chỉnh lại lịch trả tiền nợ, hoặc tìm kiếm thêm những vốn đầu tư mới. Tương tự, tác động việc mất một nhà sản xuất quan yếu với thể được giảm nhẹ bằng việc thay thế một nguồn sản xuất thích hợp khác.

A3.   Những thủ tục giám định rủi ro theo quy định tại đoạn 10 Chuẩn mực này giúp kiểm toán viên xác định liệu việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục của Ban Giám đốc với phải là vấn đề quan yếu hay ko và tác động của chúng tới việc lập kế hoạch kiểm toán. Những thủ tục này cũng cho phép kiểm toán viên trao đổi với Ban Giám đốc đơn vị kịp thời hơn, bao gồm trao đổi về những kế hoạch của Ban Giám đốc và giải pháp đối với những vấn đề liên quan tới hoạt động liên tục.

Lưu ý lúc kiểm toán những đơn vị nhỏ

A4.   Quy mô của một đơn vị với thể tác động tới khả năng chống đỡ của đơn vị trước những điều kiện bất lợi. Những đơn vị nhỏ với thể với khả năng phản ứng nhanh nhạy để khai thác những thời cơ nhưng lại với thể thiếu những nguồn lực để duy trì hoạt động.

A5.   Những điều kiện đặc thù của đơn vị nhỏ bao gồm rủi ro bị nhà băng và những chủ nợ khác ngừng tương trợ vốn cũng như nguy cơ mất nhà sản xuất chính, mất khách hàng to, mất viên chức cốt lõi hoặc mất quyền kinh doanh theo hình thức cấp phép, nhượng quyền thương nghiệp hoặc theo những hình thức đã được thoả thuận theo pháp luật khác.

Cảnh giác với những bằng cớ kiểm toán về những sự kiện hoặc điều kiện (hướng dẫn đoạn 11 Chuẩn mực này)

A6.   Đoạn 31 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 quy định nếu trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên thu thập được thêm những bằng cớ kiểm toán tác động tới việc giám định rủi ro thì kiểm toán viên phải xem xét lại những giám định rủi ro của mình và từ đó sửa đổi những thủ tục kiểm toán tiếp theo đã đề ra. Nếu sau lúc đã thực hiện giám định rủi ro, kiểm toán viên mới phát hiện ra những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán thì ngoài việc phải tiến hành những thủ tục quy định tại đoạn 16 Chuẩn mực này, kiểm toán viên với thể cần xem xét lại giám định về rủi ro với sơ sót trọng yếu. Sự tồn tại của những sự kiện hoặc điều kiện này với thể tác động tới nội dung, lộ trình, phạm vi của những thủ tục kiểm toán tiếp theo đối với những rủi ro đã giám định. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330 quy định và hướng dẫn về vấn đề này.

Xem xét những giám định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán

Những giám định, phân tích tương trợ của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và việc xem xét của kiểm toán viên(hướng dẫn đoạn 12 Chuẩn mực này)

A7.   Nhận định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị là yếu tố quan yếu để kiểm toán viên xem xét việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục của Ban Giám đốc.

A8.   Kiểm toán viên ko với trách nhiệm sửa đổi bổ sung việc Ban Giám đốc chưa thực hiện đầy đủ những thủ tục phân tích cần thiết. Trong một số trường hợp, kiểm toán viên vẫn với thể đưa ra kết luận về tính hợp lý của việc Ban Giám đốc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục ngay cả lúc Ban Giám đốc ko thực hiện đầy đủ những phân tích chi tiết để tương trợ cho giám định của mình. Ví dụ, nếu đơn vị được kiểm toán hoạt động liên tục với lãi và với khả năng tiếp cận thuận tiện với những nguồn lực tài chính, Ban Giám đốc với thể giám định mà ko cần thực hiện những phân tích chi tiết. Trường hợp này, nếu những thủ tục kiểm toán khác đã sản xuất đủ căn cứ để kiểm toán viên kết luận về tính hợp lý của việc Ban Giám đốc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục để lập và trình bày BCTC thì kiểm toán viên với thể xem xét tính thích hợp của những giám định của Ban Giám đốc mà ko cần thực hiện những thủ tục xem xét chi tiết khác.

A9.   Trong những trường hợp khác, để xem xét những giám định của Ban Giám đốc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị theo quy định tại đoạn 12 Chuẩn mực này, kiểm toán viên với thể xem xét những vấn đề như thứ tự mà Ban Giám đốc đưa ra giám định, những giả thiết đã được sử dụng làm cơ sở vật chất để giám định, kế hoạch hành động của Ban Giám đốc trong tương lai và tính khả thi của những kế hoạch đó.

Giai đoạn Ban Giám đốc giám định (hướng dẫn đoạn 13 Chuẩn mực này)

A10. Hầu hết những phạm vi về lập và trình bày BCTC đều yêu cầu việc giám định của Ban Giám đốc phải chỉ rõ giai đoạn mà Ban Giám đốc phải xem xét tất cả những thông tin sẵn với. Ví dụ, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (năm 2003) quy định giai đoạn mà Ban Giám đốc phải xem xét phải tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.

Lưu ý lúc kiểm toán những đơn vị nhỏ (hướng dẫn đoạn 12 – 13 Chuẩn mực này)

A11. Trong nhiều trường hợp, Ban Giám đốc của những đơn vị nhỏ với thể ko lập bản giám định chi tiết về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, thay vào đó Ban Giám đốc với thể dựa vào tri thức chuyên sâu về công việc kinh doanh và dự đoán triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, theo quy định của Chuẩn mực này, kiểm toán viên cần xem xét những giám định của Ban Giám đốc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Đối với những đơn vị nhỏ, kiểm toán viên với thể thảo luận với Ban Giám đốc đơn vị về những nguồn tài chính trung và dài hạn của đơn vị, với điều kiện là luận điểm của Ban Giám đốc được chứng thực đầy đủ bởi những bằng cớ bằng văn bản và nhất quán với hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị. Do đó, để thực hiện quy định tại đoạn 13 Chuẩn mực này về việc kiểm toán viên phải yêu cầu Ban Giám đốc mở rộng những giám định, kiểm toán viên với thể thảo luận, phỏng vấn và rà soát những tài liệu tương trợ, ví dụ xác minh hoặc xem xét tính khả thi của những đơn đặt hàng đã nhận để sản xuất hàng trong tương lai.

A12. Đối với những đơn vị nhỏ, sự tương trợ liên tục của chủ sở hữu kiêm Giám đốc đơn vị thường với vai trò quan yếu đối với khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Lúc một đơn vị nhỏ với nguồn tài trợ vốn chủ yếu từ một khoản vay của chủ sở hữu kiêm Giám đốc, điều quan yếu là nguồn tài trợ này sẽ ko bị rút ra. Ví dụ, việc một đơn vị nhỏ với thường xuyên gặp phải những khó khăn về tài chính hay ko với thể phụ thuộc vào việc chủ sở hữu kiêm Giám đốc chấp nhận cho đơn vị vay vốn với thứ tự ưu tiên hoàn trả sau những khoản vay nhà băng và những khoản nợ khác, hay chủ sở hữu kiêm Giám đốc sẽ tiêu dùng tài sản tư nhân để bảo lãnh cho những khoản vay của đơn vị. Trong những trường hợp tương tự, kiểm toán viên với thể thu thập những bằng cớ thích hợp bằng những tài liệu về việc cho vay hoặc bảo lãnh của chủ sở hữu kiêm Giám đốc. Lúc một đơn vị nhận được những tương trợ bổ sung từ chủ sở hữu kiêm Giám đốc, kiểm toán viên với thể cần xem xét khả năng thực hiện những nghĩa vụ trong cam kết tương trợ của chủ sở hữu kiêm Giám đốc. Không những thế, kiểm toán viên với thể yêu cầu xác nhận bằng văn bản về những điều kiện và điều khoản đi kèm với sự tương trợ và về chủ ý hoặc cách hiểu của chủ sở hữu kiêm Giám đốc.

Giai đoạn sau lúc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán giám định (hướng dẫn đoạn 15 Chuẩn mực này)

A13. Như quy định tại đoạn 11 Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải luôn cảnh giác với khả năng với thể với những sự kiện hoặc điều kiện đã biết, hoặc sẽ xảy ra sau giai đoạn Ban Giám đốc giám định mà những sự kiện hoặc điều kiện này với thể dẫn tới nghi ngờ về tính hợp lý của giả thiết hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đã sử dụng lúc lập và trình bày BCTC. Lúc một sự kiện hoặc điều kiện xảy ra ở thời khắc càng xa trong tương lai thì mức độ ko vững chắc liên quan tới kết quả của sự kiện hoặc điều kiện đó càng to, vì vậy, lúc xem xét những sự kiện hoặc điều kiện xảy ra trong tương lai xa, kiểm toán viên phải xem xét những tín hiệu về khả năng hoạt động liên tục trước lúc cân nhắc thực hiện những hành động tiếp theo. Nếu phát hiện được những sự kiện hoặc điều kiện tương tự, kiểm toán viên với thể cần yêu cầu Ban Giám đốc xem xét tác động tiềm tàng của sự kiện hoặc điều kiện đó tới giám định của Ban Giám đốc về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị. Trong những trường hợp tương tự, kiểm toán viên phải vận dụng những thủ tục quy định tại đoạn 16 Chuẩn mực này.

A14.  Ngoài việc phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên ko với trách nhiệm phải thực hiện thêm những thủ tục kiểm toán khác để xác định những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị mà những sự kiện hoặc điều kiện đó diễn ra sau giai đoạn giám định của Ban Giám đốc (như đã quy định tại đoạn 13 Chuẩn mực này, giai đoạn giám định của Ban Giám đốc ít nhất phải là 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán).

Thủ tục kiểm toán bổ sung lúc kiểm toán viên nhận thấy những sự kiện hoặc điều kiện dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị (hướng dẫn đoạn 16 Chuẩn mực này)

A15. Để thực hiện quy định tại đoạn 16 Chuẩn mực này, những thủ tục kiểm toán thích hợp với thể bao gồm:
(1)    Phân tích và thảo luận với Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về dòng tiền, lợi nhuận và những dự đoán liên quan khác;
(2)    Phân tích và thảo luận về BCTC giữa niên độ kỳ sắp nhất của đơn vị;
(3)    Xem xét điều khoản của những giấy nhận nợ và những hợp đồng vay nợ và xác định liệu với những tín hiệu vi phạm;
(4)    Xem xét biên bản họp cổ đông, họp Ban quản trị và những cuộc họp với liên quan khác để tìm hiểu về những khó khăn tài chính;
(5)    Phỏng vấn chuyên gia tư vấn pháp luật của đơn vị về những tranh chấp, kiện tụng và sự hợp lý trong những giám định của Ban Giám đốc về những tranh chấp, kiện tụng này và ước tính mức độ tác động về mặt tài chính;
(6)    Xác nhận sự tồn tại, tính hợp pháp và tính yêu cầu thi hành của những thỏa thuận để sản xuất hoặc duy trì những tương trợ tài chính cho bên thứ ba và các đối tác liên quan và giám định khả năng tài chính của những bên này trong việc sản xuất thêm những quỹ bổ sung;
(7)    Xem xét kế hoạch của đơn vị trong việc khắc phục những đơn hàng chưa hoàn thành cho khách hàng;
(8)    Tiến hành những thủ tục kiểm toán đối với những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán để xác định những sự kiện với thể làm suy giảm hoặc gây tác động tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị;
(9)    Xác nhận sự tồn tại, những điều khoản và tính hợp lý của những phương tiện vay nợ;
(10)               Thu thập và xem xét báo cáo về những hoạt động pháp lý;
(11)               Xác định xem đơn vị với kế hoạch thanh lý tài sản hay ko.

Xem xét kế hoạch của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những hành động trong tương lai (hướng dẫn đoạn 16(b) Chuẩn mực này)

A16. Để xem xét kế hoạch của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những hành động trong tương lai, kiểm toán viên với thể phỏng vấn Ban Giám đốc về những kế hoạch cho tương lai, ví dụ kế hoạch thanh lý tài sản, vay tiền hay tái cơ cấu những khoản nợ, cắt giảm hoặc tạm ngừng những khoản mức giá hay tăng vốn.

Giai đoạn được Ban Giám đốc giám định (hướng dẫn đoạn 16(c) Chuẩn mực này)

A17. Ngoài những thủ tục quy định tại đoạn 16(c) Chuẩn mực này, kiểm toán viên với thể so sánh:
(1)         Thông tin dự đoán tài chính với kết quả thực tế đạt được của những giai đoạn liền trước;
(2)         Thông tin dự đoán tài chính cho giai đoạn hiện tại với kết quả đã đạt được tính tới thời khắc hiện tại.
A18. Lúc giả thiết của Ban Giám đốc bao gồm sự tương trợ liên tục của các đối tác thứ ba, bất kể được thực hiện dưới hình thức cho vay, cam kết duy trì hoặc sản xuất bổ sung vốn đầu tư, hay bảo lãnh, và những tương trợ đó với vai trò quan yếu đối với khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, kiểm toán viên với thể cần cân nhắc việc yêu cầu các đối tác thứ ba đó xác nhận bằng văn bản (trong đó nêu rõ những điều kiện và điều khoản) và cũng với thể cần thu thập bằng cớ về khả năng của bên thứ ba đối với việc sản xuất những tương trợ đó.

Kết luận kiểm toán và báo cáo kiểm toán (hướng dẫn đoạn 17 Chuẩn mực này)

A19. Thuật ngữ “yếu tố ko vững chắc trọng yếu” (điều ko vững chắc) được sử dụng trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (năm 2003) đã kể về những yếu tố ko vững chắc liên quan tới những sự kiện hoặc điều kiện với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, mà những yếu tố đó phải được trình bày trong BCTC. Phạm vi về lập và trình bày BCTC khác với thể sử dụng thuật ngữ “yếu tố ko vững chắc đáng kể” cho những trường hợp tương tự.

Việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là thích hợp nhưng với yếu tố ko vững chắc trọng yếu

Yếu tố ko vững chắc trọng yếu đã được trình bày đầy đủ (hướng dẫn đoạn 18 Chuẩn mực này)

A20. Lúc xác định tính đầy đủ của việc trình bày thông tin trong BCTC, kiểm toán viên với thể cần xác định xem những thông tin đã được trình bày với đủ rõ ràng để thu hút sự chú ý của người đọc tới khả năng đơn vị ko thể tiếp tục thực hiện được trị giá tài sản và trả tiền những khoản nợ phải trả của mình trong điều kiện kinh doanh thường nhật hay ko.

Con số kiểm toán lúc những yếu tố ko vững chắc trọng yếu đã được trình bày đầy đủ (hướng dẫn đoạn 19 Chuẩn mực này)

A21. Dưới đây là minh họa một đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán lúc kiểm toán viên hài lòng về tính đầy đủ của thuyết minh BCTC:

“…Vấn đề cần nhấn mạnh
Mặc dù ko đưa ra ý kiến ngoại trừ, chúng tôi muốn lưu ý người đọc tới Thuyết minh X trong BCTC về khoản lỗ thuần ZZZ VND của Doanh nghiệp trong năm tài chính kết thúc ngày 31/12/20×1 và tại ngày đó, những khoản nợ ngắn hạn của Doanh nghiệp đã vượt quá tổng tài sản của đơn vị là YYY VND. Những điều kiện này, cùng những vấn đề khác được nêu trong Thuyết minh X, cho thấy sự tồn tại của yếu tố ko vững chắc trọng yếu với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của Doanh nghiệp”.

A22. Lúc với nhiều yếu tố ko vững chắc trọng yếu với tính chất quan yếu đối với tổng thể BCTC, kiểm toán viên với thể phải cân nhắc (trong rất ít trường hợp) việc từ chối đưa ra ý kiến thay vì thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” vào báo cáo kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705 quy định và hướng dẫn về vấn đề này.

Con số kiểm toán lúc những yếu tố ko vững chắc trọng yếu ko được trình bày đầy đủ (hướng dẫn đoạn 20 Chuẩn mực này)

A23.    Dưới đây là minh họa một đoạn trong báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán ngoại trừ:

                   “…Cơ sở vật chất của ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Những thỏa thuận tài chính của Doanh nghiệp đã hết hạn và số dư còn lại sẽ phải trả tiền vào ngày 19/03/20×2. Doanh nghiệp đã ko thể tái giao dịch hoặc đạt được những thỏa thuận tài chính thay thế. Thực tế này cho thấy việc tồn tại yếu tố ko vững chắc trọng yếu với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của Doanh nghiệp, và do đó, Doanh nghiệp với thể ko thực hiện được trị giá tài sản và trả tiền những khoản nợ phải trả trong điều kiện hoạt động thường nhật. Con số tài chính và những thuyết minh kèm theo đã ko trình bày đầy đủ vấn đề này.

     Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Theo ý kiến của chúng tôi, ngoại trừ việc ko trình bày đầy đủ những thông tin nêu tại đoạn “Cơ sở vật chất của ý kiến kiểm toán ngoại trừ”, BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên những khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Doanh nghiệp tại ngày 31/12/20×1, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, thích hợp với…”.

A24. Dưới đây là minh họa một đoạn trong báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán trái ngược:

“…Cơ sở vật chất của ý kiến kiểm toán trái ngược

Những thỏa thuận tài chính của Doanh nghiệp đã hết hạn và số dư còn lại sẽ phải trả tiền vào ngày 31/12/20×1. Doanh nghiệp đã ko thể tái giao dịch hoặc đạt được thoả thuận tài chính thay thế và đang xem xét việc công bố vỡ nợ. Những sự kiện này cho thấy với yếu tố ko vững chắc trọng yếu với thể dẫn tới nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của Doanh nghiệp và do đó, Doanh nghiệp với thể ko với khả năng thực hiện trị giá tài sản hoặc trả tiền những khoản nợ phải trả trong kỳ hoạt động thường nhật. Con số tài chính và những thuyết minh kèm theo đã ko trình bày vấn đề này”.

            Ý kiến kiểm toán trái ngược

Theo ý kiến của chúng tôi, do việc ko trình bày những thông tin nêu tại đoạn “Cơ sở vật chất của ý kiến kiểm toán trái ngược”, BCTC đã ko phản ánh trung thực và hợp lý, trên những khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Doanh nghiệp tại ngày 31/12/20×1, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, ko thích hợp với… “.

Việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là ko thích hợp (hướng dẫn đoạn 21 Chuẩn mực này)

A25. Nếu BCTC đã được lập trên cơ sở vật chất hoạt động liên tục nhưng theo xét đoán của kiểm toán viên, việc Ban Giám đốc đơn vị sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là ko thích hợp thì kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến kiểm toán dạng trái ngược theo quy định tại đoạn 21 Chuẩn mực này, cho dù BCTC của đơn vị với hay ko với thuyết minh về tính ko thích hợp của giả thiết hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc sử dụng.

A26. Nếu Ban Giám đốc đơn vị buộc phải hoặc lựa chọn lập BCTC lúc việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục là ko thích hợp thì BCTC được lập trên một cơ sở vật chất thay thế (ví dụ, cơ sở vật chất giá thanh lý hoặc giá thực tế với thể thực hiện). Kiểm toán viên với thể kiểm toán BCTC này nếu xét thấy cơ sở vật chất thay thế là phạm vi về lập và trình bày BCTC với thể chấp nhận được trong trường hợp đó. Với điều kiện là BCTC với đủ thuyết minh cần thiết, kiểm toán viên với thể đưa ra ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần, tuy nhiên, vẫn với thể cân nhắc sự thích hợp hay cần thiết trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán để lưu ý người sử dụng báo cáo về cơ sở vật chất thay thế và lý do sử dụng cơ sở vật chất thay thế đó.

Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán ko thực hiện hoặc ko mở rộng giám định về khả năng hoạt động liên tục (hướng dẫn đoạn 22 Chuẩn mực này)

A27. Trong một số trường hợp, kiểm toán viên với thể thấy cần phải yêu cầu Ban Giám đốc thực hiện giám định hoặc mở rộng giám định về khả năng hoạt động liên tục. Nếu Ban Giám đốc ko sẵn sàng thực hiện yêu cầu này, kiểm toán viên với thể đưa ra ý kiến ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra ý kiến trong báo cáo kiểm toán, vì trong trường hợp này kiểm toán viên với thể ko thu thập được đầy đủ bằng cớ kiểm toán thích hợp liên quan tới việc sử dụng giả thiết hoạt động liên tục trong việc lập và trình bày BCTC, ví dụ, kiểm toán viên ko thu thập được đầy đủ bằng cớ liên quan tới kế hoạch mà Ban Giám đốc đã lập hoặc bằng cớ liên quan tới việc tồn tại những yếu tố giảm nhẹ khác./.

 

*****

3/5 - (1 bình chọn)

Bình luận