Thuyết đánh giá mang tính nhận thức của cảm xúc

Thuyết thẩm định mang tính nhận thức của xúc cảm còn được gọi dưới tên ngắn gọn hơn – thuyết thẩm định (appraisal principle) hay thuyết Lazarus (Lazarus’s principle) là một lý thuyết thuộc tâm lý học nhận thức. Richard Lazarus là nhà tâm lý học trước nhất kết hợp nhận thức và xúc cảm trong cùng một lý thuyết để giảng giải cho những hiện tượng và sự thay đổi xúc cảm của con người liên quan tới nhận thức của họ lúc họ gặp một tình huống kích thích hoặc biến cố.

Dưới góc nhìn của tâm lý học, sự nhận thức (cognition) tức là tư duy, tìm kiếm và sử dụng tri thức; sự nhận thức khởi đầu với việc tập trung vào mẫu gì đó và sau đó xác định nó là gì (Kalat, 2008). Sự nhận thức liên quan ít hoặc nhiều tới quá trình suy nghĩ mà quá trình này bao gồm những hoạt động như cảm nhận, đưa ra quan niệm hoặc ý kiến và ghi nhớ (Plutchik và Kellerman, 1980).

Theo Dalgleish (2004), tác phẩm nghiên cứu trước nhất nói về xúc cảm là dự án quan sát và ghi chép kéo dài hơn ba mươi năm của Charles Darwin. Darwin (1872)6 cho rằng xúc cảm (feelings) là sự thể hiện xúc cảm của con người (và con vật) ví dụ như tức giận, hoảng sợ, ngạc nhiên, buồn bã. Sau đó, James (1884)7 qua dự án “Xúc cảm là gì?” đề xuất xúc cảm là những biểu hiện của sự thay đổi thân thể xuất hiện trong quá trình phản ứng của những kích thích mang tính xúc cảm. Ekman và cùng sự. (1972) công bố sáu phản ứng xúc cảm cơ bản của con người bao gồm: hạnh phúc (pleased), buồn bã (unhappy), tức giận (offended), khinh ghét (disgust), ngạc nhiên (shock), lo lắng/lo sợ (worry/fear).

Lazarus (1982) cho rằng nhận thức và xúc cảm gắn kết với nhau một cách tự nhiên. Trong đó, thẩm định mang tính nhận thức (cognitive appraisal) là cách thức mà con người giảng giải lúc họ rơi vào một hoàn cảnh nào đó ở một thời khắc nhất định và thẩm định này quyết định phản ứng xúc cảm của họ. Lazarus (1982, trang 1020) kết luận “thẩm định mang tính nhận thức là điều kiện cần và đủ của xúc cảm”. Kết luận này chưng bỏ kết quả công bố trước đó của Zajonc (1980), nhà tâm lý học đã với những nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của những phản ứng xúc cảm ko nhất thiết phải với sự hiện diện của hệ thống nhận thức.

Công bố của Lazarus đã khơi mào cho một cuộc tranh luận suốt thập niên 80 giữa ông và Zajonc. Zajonc và Markus (1982), trong một nghiên cứu liên quan tới hành vi lựa chọn thực phẩm của người tiêu sử dụng đã cho rằng trong vài trường hợp, thành phần nhận thức với thể chi phối xúc cảm. Ở một số trường hợp, nhận thức và xúc cảm với thể chi phối lẫn nhau; trong những trường hợp khác yếu tố xúc cảm đóng vai trò chi phối và chiếm vị trí quan yếu. Cuối cùng Zajonc và Markus (1982) khẳng định ở số đông những trường hợp những phản ứng xúc cảm xuất hiện trước nhận thức. Zajonc (1984) công bố bài báo với tựa đề “Tính ưu việt của xúc cảm” (On the Primacy of Have an effect on). Ông cho rằng Lazarus đã hiểu sai bản tính của nhận thức lúc khái niệm nhận thức dưới một thuật ngữ mới với tên gọi “thẩm định.

mang tính nhận thức”, và “ko tìm thấy bất cứ bằng cớ thực nghiệm nào trong bài báo của Lazarus cho thấy thẩm định mang tính nhận thức với trước xúc cảm” (Zajonc 1984, trang 121). Cùng năm này, Lazarus (1984) công bố bài báo “Tính ưu việt của nhận thức” (On the Primacy of Cognition), ông cho rằng Zajonc đã ko thừa nhận hàng loạt những thí nghiệm8 mà ông và những đồng nghiệp đã thực hiện và công bố trước đó.

Sở hữu thể hiểu sự khác biệt giữa lập luận của Zajonc và Lazarus nằm ở luận điểm lúc một biến cố hay một tình huống kích thích xảy ra đối với một người, người đó sẽ phản ứng xúc cảm ngay ngay tức thì. Xúc cảm này sẽ tác động tới ý định và hành vi của con người sau đó (lập luận của Zajonc). Ví dụ, một người dò vé số và biết mình trúng số, xúc cảm của anh ta lúc này là vô cùng hạnh phúc. Người trúng số lúc này với thể cho rằng mình might mắn, ở hiền gặp lành và hành vi sau đó với thể là mời mọi người ăn miễn phí, đi làm từ thiện. Xúc cảm đã xuất hiện trước nhận thức trong tình huống này. Tuy nhiên, Zajonc (1980) minh họa một ví dụ gây nhiều tranh luận liên quan tới hành vi tiêu sử dụng. Ông cho rằng “chúng ta tìm những chiếc xe tương đối mà chúng ta thích, lựa chọn những nghề nghiệp, nhà ở mà chúng ta thấy quyến rũ, và sau đó thẩm định những sự lựa chọn này bởi hàng loạt lý do […] chúng ta ko cần phải nghe theo bản thân chúng ta” (trang 155).

Rõ ràng lập luận trên của Zajonc thích hợp trong một số tình huống nhưng một số trường hợp khác lập luận này chưa thuyết phục. Nếu hành vi người tiêu sử dụng phụ thuộc vào khả năng chi trả, nhiều người với thể rất thích xe đẹp, nhà đẹp. Nhưng khả năng và nguồn lực của họ với hạn do đó họ sẽ thẩm định khả năng tìm, cân nhắc giữa thị hiếu và ngân sách, họ sẽ cảm thấy hài lòng, vui và hạnh phúc với chiếc xe sau lúc đã được đắn đo, thẩm định thích hợp. Đây chính là luận điểm của Lazarus. Lazarus (1991) cho rằng lúc một tình huống/ biến cố xảy ra, con người sẽ thẩm định tình huống/biến cố đó (quá trình thẩm định mang tính nhận thức). Những thẩm định này sẽ tác động tích cực/ tiêu cực tới những những trạng thái xúc cảm khác nhau như hạnh phúc, vui vẻ, kỳ vọng hay giận dữ, phản ứng và lo lắng.

Sự tranh luận giữa hai nhà tâm lý học trong số một trăm nhà tâm lý học tác động nhất của thế kỷ 20 được Plutchik (1985) ví von như cuộc tranh luận giữa quả trứng và con gà. Từ đó đã hình thành nên hai trường phái xung đột nhau, một trường phái theo Zajonc và nhóm còn lại theo Lazarus tiêu biểu như Smith và Ellsworth (1985b); Oatley và Johnson-laird (1987); Ellsworth và Smith (1988); Scherer (1988); Roseman (1991).

Liên quan trực tiếp tới luận án này, Harmeling và cùng sự. (2015) mượn thuyết thẩm định mang tính nhận thức của xúc cảm để giảng giải cho mối quan hệ giữa những biến trong mô phỏng mà nhóm tác giả đề xuất. Nhóm Harmeling đã sử dụng bối cảnh tranh chấp đảo Senkaku/ Điếu Ngư giữa hai quốc gia Nhật và TQ so sánh với xung đột chính trị giữa Nga và Mỹ. Nhóm Harmeling nhận định đây với thể là những biến cố thích hợp để kiểm định và mở rộng mô phỏng nghiên cứu liên quan khái niệm “sự ác cảm của người tiêu sử dụng” được đề xuất trước đó bởi Klein và cùng sự. (1998). Lúc hai quốc gia xung đột (trong quá khứ/ hiện tại), người dân sẽ biểu hiện “sự ác cảm” của họ và sự ác cảm này với dẫn tới việc họ với (1) “thẩm định tiêu cực” chất lượng sản phẩm xuất xứ từ quốc gia bị ác cảm hay ko? Và (2) sự ác cảm này với dẫn tới việc người dân từ chối tìm hàng hóa nói chung với xuất xứ từ quốc gia bị ác cảm hay ko?

Harmeling và cùng sự. (2015) cho rằng những tác giả trước đã gom chung thành phần nhận thức và xúc cảm trong cùng một khái niệm được gọi là “sự ác cảm của người tiêu sử dụng”. Việc gom chung này đã dẫn tới những kết quả thiếu nhất quán lúc những nhà nghiên cứu trả lời cho những thắc mắc trên. Nhóm Harmeling nhận định rằng, trong bối cảnh tranh chấp quốc tế giữa hai quốc gia, nhận thức (sự thẩm định liên quan tới nhận thức) của người dân ở một quốc gia về những biến cố (kinh tế, chính trị, chiến tranh) này sẽ dẫn tới những phản ứng xúc cảm tiêu cực của họ. Suy diễn này thích hợp với lý thuyết của Lazarus nói ở trên. Những phản ứng xúc cảm khác nhau này sẽ dẫn tới những ý định, hành vi khác nhau.

Rate this post

Bình luận