Phân loại cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp căn cứ vào các chỉ tiêu đo lường cơ cấu nguồn vốn doanh nghiệp

Để đo lường cơ cấu tài chính của DN, tác giả sử dụng những mục tiêu đo lường căn cứ theo sự phân loại cơ cấu tài chính như sau:

* Căn cứ theo quan hệ sở hữu: Tác giả sử dụng những mục tiêu đo lường cơ cấu tài chính như sau: (i) Hệ số nợ vay; (ii) Hệ số vốn chủ sở hữu; (iii) Tỷ trọng nợ vay ngắn hạn; (iv) Tỷ trọng nợ vay dài hạn; (v) Tỷ trọng vốn góp của chủ sở hữu và (vi) Tỷ trọng lợi nhuận giữ lại tái đầu tư. Trong đó, những mục tiêu đo lường cơ cấu tài chính theo quan hệ sở hữu được tính như sau:

Hệ số nợ vay là mục tiêu quan yếu trong giám định cơ cấu tài chính DN. Hệ số nợ vay càng cao phản ánh mức độ phụ thuộc của DN vào chủ nợ càng to cũng như nguy cơ cao về rủi ro tài chính và khả năng trả tiền. Những DN sở hữu hệ số nợ vay cao còn gặp vấn đề trong việc huy động thêm tài chính vay để tạo ra nhu cầu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh mức độ độc lập tài chính và mức độ tự chủ tài chính của DN trong quá trình sản xuất kinh doanh. DN sở hữu hệ số vốn chủ sở hữu cao phản ánh tính độc lập và tự chủ cao trong những quyết định sản xuất kinh doanh.

Tỷ trọng nợ vay ngắn hạn và tỷ trọng nợ vay dài hạn là mục tiêu phản ánh cơ cấu nợ vay của DN. Nợ vay của DN bao gồm nợ vay ngắn hạn và nợ vay dài hạn. Do nợ vay dài hạn sở hữu tính chất ổn định hơn nợ vay ngắn hạn nên lúc hoạch định chính sách tài trợ, nợ vay dài hạn thường được quan tâm hơn so với nợ vay ngắn hạn. Tuy nhiên, tỷ trọng nợ vay dài hạn ở mức độ cao cũng đồng nghĩa với việc DN hiện đang sở hữu một mức độ rủi ro tài chính ở mức cao và DN sở hữu nguy cơ gặp vấn đề lúc phải đáp ứng nghĩa vụ nợ của mình.

Tỷ trọng vốn góp của chủ sở hữu là mục tiêu phản ánh quy mô vốn góp của chủ sở hữu trong tổng tài chính chủ sở hữu của DN. Vốn góp của chủ sở hữu chủ yếu được hình thành thông qua phương thức phát hành cổ phần để huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Vốn góp của chủ sở hữu là phần tài chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài chính chủ sở hữu của DN.

Tỷ trọng lợi nhuận giữ lại tái đầu tư là mục tiêu phản ánh quy mô lợi nhuận giữ lại tái đầu tư trong tổng tài chính chủ sở hữu của DN. Lợi nhuận giữ lại tái đầu tư càng cao sẽ cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của DN đang trên đà tăng trưởng, việc sử dụng lợi nhuận giữ lại sẽ giúp DN gia tăng tính độc lập trong quyết định sản xuất kinh doanh từ việc sử dụng tài chính. Ngoài ra, việc sử dụng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư cũng giúp những DN hạn chế giá thành sử dụng vốn trong trường hợp DN đang gặp vấn đề trong việc huy động nguồn tài trợ.

* Căn cứ theo thời kì huy động và sử dụng vốn: Tác giả sử dụng những mục tiêu sau để đo lường cơ cấu tài chính, bao gồm: (i) Tỷ trọng tài chính thường xuyên; (ii) Tỷ trọng tài chính tạm thời. Những mục tiêu được tính toán như sau:

Tỷ trọng tài chính thường xuyên và tỷ trọng tài chính tạm thời phản ánh cơ cấu tài chính theo thời kì. Đây là hai mục tiêu đo lường sự thích hợp giữa thời kì đáo hạn của những nguồn tài trợ và thời kì mang lại lợi ích kinh tế của những tài sản tương đồng.

* Căn cứ theo phạm vi huy động vốn: Tác giả sử dụng những mục tiêu sau để đo lường cơ cấu tài chính, bao gồm: (i) Tỷ trọng tài chính bên ngoài; (ii) Tỷ trọng tài chính bên trong. Những mục tiêu được tính toán như sau:

Tỷ trọng tài chính bên trong và tỷ trọng tài chính bên ngoài phản ánh cơ cấu tài chính theo phạm vi huy động vốn. Tỷ trọng tài chính bên trong phản ánh mức độ sử dụng nguồn tài trợ bên trong trong tổng tài chính của DN. Vốn đầu tư bên trong của DN được lấy từ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Đây cũng là mục tiêu cho thấy mức độ độc lập tài chính của DN trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tỷ trọng tài chính bên ngoài phản ánh mức độ sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài trong tổng tài chính của DN. Vốn đầu tư bên ngoài được sử dụng lúc DN mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh do đây là một tài chính khá to về mặt quy mô. Vốn đầu tư bên ngoài được DN sử dụng để tài trợ cho những dự án đầu từ quy mô to, đổi mới thứ tự khoa học của DN, phát triển sản phẩm, tính khó khăn…

Rate this post

Bình luận