Quyền và nghĩa vụ đối với kiểm toán viên hành nghề

Đối với KTV hành nghề

a) Quyền của KTV hành nghề (Điều 17 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Lúc hành nghề tại DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam, KTV hành nghề với những quyền sau đây:

– Hành nghề kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập;

– Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ;

– Yêu cầu đơn vị được kiểm toán phân phối đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu cần thiết và giải trình những vấn đề với liên quan tới nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan tới nội dung kiểm toán; rà soát toàn bộ hồ sơ, tài liệu với liên quan tới hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quá trình thực hiện kiểm toán;

– Rà soát, xác nhận những thông tin kinh tế, tài chính với liên quan tới đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quá trình thực hiện kiểm toán.

– Yêu cầu tổ chức, tư nhân với liên quan phân phối tài liệu, thông tin cần thiết với liên quan tới nội dung kiểm toán thông qua đơn vị được kiểm toán.

– Quyền khác theo quy định của pháp luật.

b) Nghĩa vụ của KTV hành nghề (Điều 18 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

Lúc hành nghề tại DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam, KTV hành nghề với những nghĩa vụ sau đây:

– Tuân thủ nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập;

– Ko can thiệp vào hoạt động của khách hàng, đơn vị được kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán;

– Từ chối thực hiện kiểm toán cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán nếu xét thấy ko bảo đảm tính độc lập, ko đủ năng lực chuyên môn, ko đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;

– Từ chối thực hiện kiểm toán trong trường hợp khách hàng, đơn vị được kiểm toán với yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật;

– Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật tri thức hàng năm;

– Thường xuyên trau dồi tri thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp;

– Thực hiện kiểm toán, soát xét hồ sơ kiểm toán hoặc ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về báo cáo kiểm toán và hoạt động kiểm toán của mình;

– Thống kê định kỳ, đột xuất về hoạt động kiểm toán của mình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước với thẩm quyền;

– Tuân thủ quy định của Luật Kiểm toán độc lập và pháp luật của nước sở tại trong trường hợp hành nghề kiểm toán ở nước ngoài;

– Chấp hành yêu cầu về rà soát, kiểm soát chất lượng nhà cung cấp kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính;

– Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

 c) Những trường hợp mà KTV hành nghề ko được thực hiện kiểm toán (Điều 19 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

– Là thành viên, cổ đông sáng lập hoặc sắm cổ phần, góp vốn vào đơn vị được kiểm toán;

– Là người giữ chức vụ quản lý, quản lý, thành viên ban kiểm soát hoặc là kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán;

– Là người đã từng giữ chức vụ quản lý, quản lý, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán cho những năm tài chính được kiểm toán;

– Trong thời kì hai năm, kể từ thời khắc thôi giữ chức vụ quản lý, quản lý, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán;

– Là người đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề công việc ghi sổ kế toán, lập BCTC hoặc thực hiện kiểm toán nội bộ cho đơn vị được kiểm toán;

– Là người đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong năm trước liền kề nhà cung cấp khác với những nhà cung cấp (gồm: ghi sổ kế toán, lập BCTC hoặc thực hiện kiểm toán nội bộ cho đơn vị được kiểm toán) với tác động tới tính độc lập của KTV hành nghề theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán;

– Với bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là người với lợi ích tài cương trực tiếp hoặc gián tiếp đáng kể trong đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán hoặc là người giữ chức vụ quản lý, quản lý, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán;

– Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

d) Những hành vi nghiêm cấm đối với KTV, KTV hành nghề: (Khoản 1, 2 Điều 13 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12)

– Tìm, nhận biếu tặng, nắm giữ cổ phiếu hoặc phần vốn góp của đơn vị được kiểm toán ko phân biệt số lượng;

– Tìm, bán trái phiếu hoặc tài sản khác của đơn vị được kiểm toán với tác động tới tính độc lập theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán;

– Nhận hoặc đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ đơn vị được kiểm toán ngoài khoản phí nhà cung cấp và giá thành đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao ước;

– Sách nhiễu, lừa dối khách hàng, đơn vị được kiểm toán;

– Tiết lộ thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán, trừ trường hợp khách hàng, đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật;

– Thông tin, giới thiệu sai sự thực về trình độ, kinh nghiệm và khả năng phân phối nhà cung cấp của KTV hành nghề và DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam;

– Tranh giành khách hàng dưới những hình thức ngăn cản, thu hút, sắm chuộc, thông đồng với khách hàng và những hành vi khó khăn ko lành mạnh khác;

– Thực hiện việc thu nợ cho đơn vị được kiểm toán;

– Thông đồng, móc nối với đơn vị được kiểm toán để làm sai lệch tài liệu kế toán, BCTC, hồ sơ kiểm toán và báo cáo sai lệch kết quả kiểm toán;

– Mạo, khai man hồ sơ kiểm toán;

– Thuê, mượn chứng chỉ KTV và Giấy chứng thực đăng ký hành nghề kiểm toán để thực hiện hoạt động nghề nghiệp;

– Phân phối nhà cung cấp kiểm toán lúc ko đủ điều kiện theo quy định của Luật Kiểm toán độc lập;

– Hành nghề kiểm toán với tư cách tư nhân;

– Mạo, cho thuê, cho mượn hoặc cho sử dụng tên và chứng chỉ KTV, Giấy chứng thực đăng ký hành nghề kiểm toán để thực hiện hoạt động kiểm toán;

– Làm việc cho hai DNKT, chi nhánh DNKT nước ngoài tại Việt Nam trở lên trong cùng một thời kì;

– Hành vi khác theo quy định của pháp luật.

Rate this post

Originally posted 2019-01-06 18:48:44.

Bình luận